Trần Độ: người chiến sĩ vô cùng dũng cảm

Bùi Văn Phú

Ông Trần Độ, một tiếng nói có sức nặng trong việc đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam, vừa qua đời tại Hà Nội sau một thời gian lâm bệnh, thọ 78 tuổi.

Suốt cuộc đời của ông Trần Độ – với 58 tuổi đảng, từng mang quân hàm trung tướng, từng giữ chức phó chính ủy Lực lượng Vũ trang Nhân dân trong miền Nam – ông đã đóng góp rất nhiều cho thành quả đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước.

Những năm cuối đời, thay vì nghỉ hưu an nhàn với mọi ưu đãi dành cho một cựu tướng, một cựu Phó chủ tịch Quốc hội và một cựu quan chức Đảng Cộng sản; ông Độ đã nhìn thẳng vào tình trạng tha hoá của đất nước và lên tiếng kêu gọi dân chủ hoá tổ chức chính quyền. Tiếng nói của ông không những không được nhà nước đáp ứng mà ngược lại là những hệ lụy: ông bị trục xuất khỏi đảng năm 1999, bị trù dập và quấy nhiễu cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Tiếng nói của ông đã được nhiều người lắng nghe, một số người đã ủng hộ ông công khai, từ trước trong khi ông còn sống, như Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Khuê, Phạm Quế Dương; ngay trước linh cữu của ông trong ngày tang lễ hôm 14 tháng 8 vừa qua tại Hà Nội; và còn nhiều người khác đã và đang âm thầm ủng hộ quan điểm của ông về một nước Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc.

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc: Đó là niềm mơ ước của người dân Việt trong những thập kỷ 20 và 30. Như bao thanh niên khác, ông Trần Độ đáp lời sông núi tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp giành lại độc lập cho đất nước. Hình ảnh của người bộ đội thời bấy giờ, theo ông Độ là: “sống ở trong dân, đều ăn, ở như dân và đều nổi bật lên về tính gương mẫu, về chịu đựng gian khổ và hy sinh tính mệnh. Chỗ nào dân cũng mong đợi, ngưỡng mộ và yêu mến …” [trích Bút Ký – Tiểu Luận: Đảng Cộng sản và dân chủ ở Việt Nam của Trần Độ, 2001]

Kháng chiến thành công, những người bộ đội như ông Độ lại tiếp tục chiến đấu trong cuộc chiến tranh gọi là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông Độ là người đã thảo phương án và chỉ huy cuộc tổng nội dậy nhằm cướp chính quyền miền Nam vào năm 1968, một cuộc tấn công làm lung lay ý chí bảo vệ miền Nam của Hoa Kỳ, đưa đến kết cuộc Việt Nam thống nhất vào năm 1975 dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa.

Nhưng cũng kể từ đó và trong suốt mười năm kế tiếp, Việt Nam chìm đắm trong những thất bại. Về quân sự bị sa lầy ở Kampuchia, kinh tế tụt dốc, đối ngoại bị thế giới lên án vì đã xâm lăng nước láng giềng phía tây.

Trong khi đó, thế giới của thập kỷ 80 và 90 đã bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế toàn cầu và những thể chế dân chủ hoá. Tại châu Á nhiều nước chuyển mình. Đài Loan, Nam Triều Tiên đã cùng với Nhật Bản thành những con rồng kinh tế, những quốc gia dân chủ tiến bộ.

Cùng lúc thì Việt Nam mới chập chững mở cửa, áp dụng chính sách đổi mới từ sau Đại hội VI vào năm 1986, dưới thời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, đem một luồng gió mới thổi vào sinh hoạt kinh tế cũng như văn hoá tại Việt Nam. Ông Độ, giữ chức Trưởng ban Văn hoá, Nghệ thuật của Đảng, là người tiên phong khởi xướng việc cởi trói văn nghệ. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Đến năm 1989 thì sinh hoạt văn nghệ lại bị xiết lại và ông Độ mất chức trưởng ban.

Nhưng cởi mở kinh tế không thôi đã không đem lại nhiều điều tốt đẹp cho đại đa số người dân mà chỉ làm giầu cho thành phần cán bộ, đảng viên. Dân chúng tỉnh Thái Bình, sinh quán của ông Độ, nổi dậy vào năm 1997 vì thực tế này.

Cán bộ cộng sản ngày nay, ông Độ quan sát: “đi sâu, đi sát là xe hơi bóng láng, mới cáu cạnh toàn của các hãng tư bản nước ngoài danh tiếng chế tạo… [cán bộ] đi thăm các cơ sở gặp vài người đã được chọn lọc (để bảo đảm an toàn cho cấp trên) hỏi vài ba câu thường là vớ vẩn, đôi khi lại còn ngớ ngẩn, rồi lại vào phòng khách sang trọng có mấy lời huấn thị thường là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, rất nhạt nhẽo và nhàm chán thế mà đều được khen là ‘sâu sắc’, ‘sáng rõ’ và được hứa xin chấp hành nghiêm túc.” [bài dẫn thượng]

Từ năm 1995 ông Độ đã công khai lên tiếng về tình trạng lãnh đạo kém, đạo đức cán bộ xuống cấp, tham nhũng lan tràn mà căn nguyên là do tính độc đoán, thiếu dân chủ trong việc cai trị.

Trong thư đề ngày 03.01.1995 gửi Tổng bí thư Đỗ Mười, ông Độ viết: “Phải có một sự cải cách cơ bản chế độ bầu cử và ứng cử, bảo đảm chọn được các nhân tài thực sự, không chỉ là kêu gọi tăng thêm thành phần không Đảng trong các cơ quan dân cử, và hô hào khuyến khích tự do ứng cử.” Đây là lời kêu gọi đổi mới chính trị từ một nhân vật có tầm vóc và ảnh hưởng lớn tại Việt Nam lúc bấy giờ.

Những năm kế tiếp, ông tiếp tục gửi kiến nghị lên Bộ chính trị, Quốc hội đề nghị cải cách chính trị với việc ban hành những bộ luật cho phép tự do báo chí, tự do phát biểu quan điểm, tự do lập hội và luật bầu cử và ứng cử tự do. Ông mạnh mẽ đòi bỏ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vì chủ thuyết đó đã chết ngay tại nôi sinh ra nó là Liên Xô. Còn tại Việt Nam chủ thuyết này hiện nay tượng trưng cho những thất bại, xấu xa nhất trong xã hội, không phải thứ xã hội chủ nghĩa mà ông từng hình dung, mơ ước. Những suy nghĩ đã được ông viết lại trong một nhật ký nhưng đã bị công an cướp mất vào tháng 6 năm 2001.

Đám tang của ông Trần Độ có lẽ là một đám tang với những nét lạ nhất từ trước đến giờ tại Hà Nội. Trưởng ban tổ chức tang lễ là ông Vũ Mão, chủ nhiệm ban đối ngoại của Quốc hội. Trong bài điếu văn đọc trước quan tài ông đã ca ngợi những đóng góp của “ông” Trần Độ – chứ không phải “Đồng chí” – trong sự nghiệp giành độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng ông Mão lại nói vào những ngày cuối đời ông Độ đã phạm những lỗi lầm. Người con trai cả của ông Trần Độ từ chối nhận những phát biểu cảm tưởng của ông Mão và đã được nhiều người có mặt trong tang lễ đồng tình tán thành. Ban tổ chức cũng không cho phép trưng bày những huân chương chiến đấu mà ông Độ đã đạt được, trong đó có cả huân chương cao quý nhất là Huân chương Hồ Chí Minh.

Giữa thập kỷ 80, khi có chính sách cởi trói văn nghệ thì một số nhà văn đã viết lên những suy nghĩ, trăn trở về đất nước trong đó có Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Bảo Ninh.

Tác phẩm “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp vẽ lên khuôn mặt nặng trĩu ưu tư của những người như ông Trần Độ đã vì lý tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu cho đất nước để rồi khi đất nước được độc lập, thống nhất, trở về làng xưa, nhìn vào tình cảnh đất nước và nhận ra đã bị phản bội. Ông tướng về hưu trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp không muốn đương đầu với thực tế đó nên lại bỏ làng cũ ra đi.

Còn tướng về hưu Trần Độ nhìn thẳng vào thực tế và công khai lên tiếng đòi hỏi dân chủ, tự do cho đất nước. Dù đã già, ông tiếp tục đấu tranh vì lý tưởng của toàn dân.

Ông thật là một chiến sĩ vô cùng dũng cảm.

© 2002 Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, chính trị Việt and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s