Phỏng vấn giáo sư Larry Berman về sự phản bội trong Hiệp định Ba Lê 1973

Bùi Văn Phú

Larry Berman nguyên là giáo sư chính trị học tại Đại học U.C. Davis, California. Ông hiện làm giám đốc Trung tâm Đại học California ở Thủ đô Washington. Tác phẩm No Peace, No Honor, tựa Việt ngữ là Không hoà bình, chẳng danh dự do giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của Đại học George Mason University dịch và Nhà xuất bản Viet Tide ở California phát hành năm 2003.

Bùi Văn Phú: Nguyên do nào khiến giáo sư quan tâm nghiên cứu về Hoà đàm Ba Lê?

Giáo sư Larry Berman: Tôi đã viết hai cuốn sách về Việt Nam. Cuốn đầu là Planning a Tragedy, chú trọng vào những quyết định năm 1965 đưa đến việc Mỹ hóa cuộc chiến Việt Nam. Tiếp theo là cuốn Lyndon Johnson’s War. Tôi cũng rất muốn viết về thời Nixon cầm quyền, nhưng 10 năm trước đây tôi không nghĩ là có nhiều tài liệu. Tôi chú ý tìm hiểu xem đằng sau cụm từ “hoà bình trong danh dự” là gì, vì đây là câu nói được nhắc đến nhiều nhất vào thời điểm đó, và Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hoà bình cũng như danh dự. Tôi muốn biết có những tài liệu lịch sử nào sẽ chứng minh khác hơn những gì mà Nixon và Kissinger đã viết trong hồi ký. Khi tôi nghiên cứu thì nó trở nên rõ ràng là đã có một tiến trình đằng sau bức tường của những bí mật, lừa dối và những vận dụng. Miền Nam bị đưa vào việc chấp nhận một hiệp định cho phép 150 nghìn bộ đội miền Bắc được ở lại. Đó là tiếng chuông báo tử cho họ.

Sự thực nào đáng chú ý nhất giáo sư đã tìm ra về Nixon liên quan đến Việt Nam, và so sánh với Johnson thì có những gì tương đồng hay khác biệt?

Những tài liệu mới phổ biến cho thấy một kế hoạch lừa dối mà tôi so sánh với những vận động của Lyndon Johnson trong sự kiện Nghị quyết Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin Resolution) đã được dùng để biện minh cho việc gia tăng can thiệp quân sự. Hiệp định Ba Lê có ý định được dùng vào việc tái can thiệp của người Mỹ – và cũng như là vào năm 1964, công chúng và Quốc hội không được biết rõ. Chiến tranh vĩnh viễn với một giá chính trị chấp nhận được là kết luận mà tôi rút ra từ những chứng liệu sẵn có. Vụ Watergate đã làm hỏng kế hoạch này. Những gì Tổng thống Thiệu có được là lời hứa [Hoa Kỳ] sẽ trả đũa đối với những vi phạm của cộng sản. Thiệu yêu cầu ghi xuống văn bản rõ ràng nhưng Nixon và Kissinger đã đảm bảo với ông là điều đó không cần thiết. Quốc hội sau đó đã bỏ rơi một đồng minh lâu dài của chúng ta.

Tại sao gọi đó là một “sự phản bội”?

Đây là câu chuyện về lừa đảo ngoại giao và một sách lược liên quan đến việc không nói thật với nhân dân Hoa Kỳ, một trường hợp mà lời tuyên bố của những nhà lãnh đạo chính trị không có chút nào thành thật. Một sự phản bội công khai trong đó nhân dân Hoa Kỳ không hề được thông báo về những gì mà Nixon đã bí mật hứa với Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam, hậu quả trực tiếp của những nhượng bộ mà Kissinger đã thực hiện ở Ba Lê. Những nhà lãnh đạo miền Nam được hứa hẹn những trả đũa rộng lớn và tàn bạo đối với những vi phạm của cộng sản và họ còn được khuyến khích bất chấp những điều khoản chính của hiệp định có thể dẫn đến những cuộc tấn công của cộng sản. Như là một hệ quả, tôi cho rằng đây cũng là điều phản bội nhân dân miền Nam khi họ bị ép buộc phải chấp nhận sự có mặt của 150 nghìn bộ đội miền Bắc trong Nam, trong khi Hoa Kỳ đã đơn phương rút quân và đem được tù binh trở về.

Trong No Peace, No Honor giáo sư viết là Kissinger đã có dấu chỉ phản bội ngay từ trong những cuộc họp mật với Hà Nội.

Cả Kissinger và Nixon đã hứa với Tổng thống Thiệu là khi họp kín với Lê Đức Thọ họ sẽ không bàn đến cơ cấu chính trị của miền Nam, và dĩ nhiên là họ đã bàn và bàn cãi nhiều nữa. Tổng thống Nixon và Kissinger cũng bàn đến hậu qủa của việc này nếu Tổng thống Thiệu biết được. Và Thiệu cũng đã biết được chuyện đó. Chuyện chính trị nội bộ của miền Nam được đem ra thảo luận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ và khi mà một giải pháp chính trị cho nam Việt Nam được thương lượng mà không có sự tham dự của nam Việt Nam, thì đó là đấu chỉ đầu tiên của những sự phản bội.

Có đúng là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã giúp cho Nixon thắng cử vào tháng 11-1968 khi Thiệu từ chối tham dự Hoà đàm Ba Lê? Và có phải vì thế mà Nixon cảm thấy rằng ông không thể chấp nhận đòi hỏi của Hà Nội tại bàn hoà đàm là phải loại bỏ Thiệu?

Bầu cử 1968 là món nợ của Nixon đối với Tổng thống Thiệu và Anna Chennault. Nixon biết là không thể bỏ Thiệu bởi vì Thiệu biết rõ sự thực về những can thiệp của [ứng cử viên] Nixon vào việc hoà đàm trong năm 1968.

Nixon và Kissinger lập luận rằng đạo luật War Power Act 1973 đã trói tay Hoa Kỳ trong việc trả đũa sự xâm lăng của Hà Nội tại miền Nam. No Peace, No Honor lại chứng minh rằng họ biết bản hiệp định rồi cũng sẽ đưa đến việc Hà Nội lấn chiếm miền Nam, tại sao lại như thế?

Sự thực là cả Nixon và Kissinger không bao giờ trông mong có một nền hòa bình vĩnh cửu do từ kết quả của những đàm phán (để được giải Nobel) của Kissinger. Nixon đoán trước là ông ta sẽ phải trở lại với B-52. Điều này sẽ tạo nên những tranh luận về quyền tham chiến ghi trong hiến pháp. Tôi tin kế hoạch không tập mạnh mẽ mà các tướng trong Bộ Tổng tham mưu đang phác họa có thể ngăn chặn việc Hà Nội và miền Bắc thống nhất Việt Nam cho đến sau năm 1976. Vì thế khi Nixon ra đi thì còn miền Nam tự do. Rồi câu hỏi được đặt ra là nam Việt Nam có thể sống còn sau đó hay không? Đây chính là câu hỏi cốt lõi, người dân miền Nam đáng có được cơ hội. Theo tôi nghĩ, qua cái nhìn của Nixon thì đây là một kế hoạch hay, nhưng vấn đề là, như Đô đốc Zumwault và những người khác, cũng như tôi, nói là chúng ta không thể có một kế hoạch như thế mà không cho công chúng Mỹ biết. Đây là sự lừa dối trắng trợn. Nixon đã nói với Tổng thống Thiệu về kế họach đó, nhưng khi Tổng thống Thiệu yêu cầu Nixon viết ra, thì Nixon nói: tôi không cần viết ra, những điều tôi hứa miệng cũng đủ rồi. Dĩ nhiên những lời hứa miệng của Nixon không đủ và điều đó đã dẫn tới một sự phản bội lớn lao.

Việt Nam Cộng hoà có còn tồn tại được không, nếu Nixon đã không từ chức?

Hoàng Đức Nhã, bí thư của Tổng thống Thiệu, có nói rằng trong kỳ họp thượng đỉnh ở Midway vào năm 1969, Nixon đã hứa với Thiệu 4 năm viện trợ quân sự và 4 năm viện trợ kinh tế. Trong nhiệm kỳ đầu của Nixon là viện trợ quân sự, nhiệm kỳ hai là viện trợ kinh tế, quân dụng v.v… và Tổng thống Thiệu lúc đó cho là nam Việt Nam sau đó có thể tự đứng vững. Có nhiều người tin rằng như thế là đủ, nhưng tôi không biết.

Giáo sư có tin rằng Nixon và Kissinger có thể xin ngân sách để đem quân trở lại?

Chắc chắn là không. Điều Nixon và Kissinger tiên đoán là như thế này. Họ tin rằng nếu đã có một bản hiệp định được ký kết và bị vi phạm, công chúng Mỹ sẽ đứng sau lưng hỗ trợ tổng thống vì tổng thống đã ký hiệp định. Ông cứ gợi ra sự so sánh ghê sợ với bản hiệp định đình chiến ở Triều Tiên và nói: “Không ai biết hiệp định đình chiến Triều Tiên là gì, nhưng mọi người đều biết là nếu Bắc Triều Tiên vi phạm hiệp định, thì chúng ta có thể trừng phạt và hành động mọi cách để đối phó với Bắc Triều Tiên.”

Trung Quốc và Liên Xô có giúp được gì trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam?

Nếu nhìn lại thời Nixon cầm quyền, bỏ ra ngoài vụ Watergate, thì những thành đạt chủ yếu là đối ngoại. Không có cách gì mà Nixon lại giao chìa khóa cho người kế vị, bất kể đó là cộng hoà hay dân chủ, mà không có nam Việt Nam tự do và độc lập là một thành qủa. Nam Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô sẽ là những thành qủa lịch sử. Nixon nhận thức là ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô có thể giúp ông giải quyết vấn đề. Nixon tìm cách dùng Trung Quốc và Liên Xô để thương lượng một nền hoà bình cho Việt Nam. Nhưng ông thất vọng, theo tôi nghĩ, vì không đạt được những thành công trong việc dùng hai đồng minh của Bắc Việt Nam.

© Buivanphu 2003

___

Bài đã đăng trên Việt Mercury (San Jose, California) 10.01.2003

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in chính trị Mỹ, chính trị Việt, phỏng vấn and tagged , . Bookmark the permalink.