Song of Saigon: lịch sử truyền đạo tin lành ở Việt Nam

Bùi Văn Phú

[Song of Saigon: One Woman’s Journey to Freedom của Anh Vu Sawyer, viết chung với Pam Proctor. 288 trang. Nxb Warner Books, New York 2003]

(Ghi chú của người điểm sách: Tên Việt đều ghi không dấu như nguyên bản Anh ngữ)

*

Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc di tản khỏi Sài Gòn vào tháng 04.1975, khi đó tác giả là một nữ sinh viên 20 tuổi đang học năm thứ hai ngành y khoa ở Đại học Minh Đức. Một cuộc vượt thoát theo Anh Vu nếu không có bàn tay của Thượng Đế thì không thể nào gia đình tác giả vào được bên trong sứ quán Mỹ rồi được trực thăng đưa ra chiến hạm.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo đạo tin lành từ ba đời, tác giả tin tưởng Chúa đã soi sáng và dẫn đường cho mình và cho gia tộc trong suốt 80 năm của những biến đổi xảy ra trên đất nước Việt Nam.

Nguồn gốc gia đình khởi đầu với ông ngoại Nguyen Duy Tieu, người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, có bằng “diplome” nhưng không được làm quan cho Pháp mà bị đày về thành phố Vinh buồn tẻ làm giám đốc sở giao thông công chánh. Ông Tieu theo tây học trong khi vợ là bà Nhu thuộc gia đình điền chủ ở Kiên Giang, học chỉ đến lớp ba. Khi làm công chức ở Vinh ông để vợ và ba người con gái ở lại miền đồng bằng Cửu Long. Thời gian ở Vinh ông Tieu nghiện thuốc phiện và đã nhiều lần bị cơn nghiền dằn vặt. Ông gặp giáo sĩ tin lành Richmond Merrill Jackson – người đã đến Hải Phòng trong sứ mạng truyền giáo vào năm 1918 – đưa ông thoát khỏi vòng hút sách qua một thông điệp: “Tin Giêsu bạn sẽ được tự do”. Ông Tieu đã chịu phép rửa và theo đạo tin lành.

Sau khi hết nghiện thuốc phiện, đứa con gái thứ tư của ông Tieu là Nghia, mẹ của tác giả, được sinh ra ở Vinh.

Cũng từ đó, mọi biến cố xảy ra trong đời ông Tieu và gia đình của Anh Vu Sawyer, từ việc ông ngoại thăng quan tiến chức, mẹ được chữa khỏi bệnh đau mắt, hay việc ông ngoại mua được nhà mới ở Hà Nội đều nhờ sự cầu nguyện và được hướng dẫn của Chúa. Bà Nhu lúc đầu vẫn tin vào việc thờ cúng, không chút mảy may tin vào Chúa, nhưng sau cả gia đình ông Tieu đã theo đạo tin lành. Qua gia đình này, độc giả biết được đã có một nơi thờ phượng Đức Chúa Trời nằm ở phố Hàng Da, Hà Nội từ thập niên 1920. Từ nơi này Nghia có dịp làm quen và nô đùa với Esther Van Hine, là con gái của ông bà giáo sĩ Jake và Nellie Van Hine.

Phiá nội có Vu Duc Phuong, bố của tác giả, người đã theo Việt Minh chống Pháp, nhưng không phải là người tình đầu tiên của Nghia. Người con gái Hà Nội 19 tuổi của trường Lycée Hoài Đức đã mê một anh sinh viên luật tên Minh. Hai người yêu nhau thắm thiết qua những buổi hẹn hò trong đền Voi Phục ở Ô Cầu Giấy. Hình ảnh người thiếu nữ Hà Nội búi tó nổi bật trong chiếc áo dài lụa là nét đẹp muôn thuở thời tiền chiến còn mãi trong tâm tưởng nhiều người Việt, nhất là những thanh niên, thiếu nữ Hà Nội thời bấy giờ. Tình yêu giữa hai người nảy nở trong biến loạn thời cuộc – Nhật đảo chính Pháp, nạn đói năm Ất Dậu, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập – nhưng kết cuộc tan vỡ vì ông Tieu không muốn con gái mình lấy một người không cùng tôn giáo.

Xuất thân từ một gia đình giàu có và hết lòng giúp kháng chiến, Phuong học hết lớp đệ lục rồi đi theo Việt Minh, bị bắt giam ở Hoả Lò. Trong một lần chuyển trại, Phuong vượt ngục. Phuong bắt gặp hình bóng Nghia lần đầu trong một buổi lễ ở nhà thờ tin lành Hà Nội. Lại là hình ảnh cô gái Hà Nội búi tó, áo dài thướt tha. Sau Phuong làm bí thư xã Hoành Nha, xin theo đạo tin lành để được làm đám cưới với Nghia trong không khí rất linh đình: hai con bò, bốn con heo và mấy chục gà vịt. Theo đạo tin lành và tổ chức đám cưới thật to đưa đến việc Phuong bị đảng kiểm thảo và cắt chức bí thư xã. Tin tưởng vào cuộc chiến tranh giành độc lập, Phuong xung phong ra vùng Việt Bắc, bỏ lại vợ con. Nghia trong khi đó muốn được cải tạo để làm giáo viên tiểu học xã. Một thời gian sau Nghia lại trốn qua vùng Pháp kiểm soát, xin được một chỗ dạy học ở Bùi Chu.

Ngày 20.07.1954 nước Việt Nam bị chia đôi. Gia đình Phuong-Nghia di cư vào nam, bỏ lại bà nội, cô chú bác ở lại miền bắc, nơi chiến dịch cải cách ruộng đất được phát động. Bà nội bị mang ra đấu tố, còn người cô điên lên và đã chết tức tưởi trong nhà giam.

Ở những thời điểm đó con người Việt Nam đã bị giằng co bởi nhiều quan điểm chính trị, bị chi phối bởi những quan niệm sống trong xã hội, bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng tây phương, mà tác giả đã khéo đưa vào hồi kí qua nhiều nhân vật khác nhau.

Sinh ra tại Sài Gòn, người con gái có gốc Bắc 54 mang tên Vu Ngoc Anh kể lại đời mình qua những biến cố lịch sử của thời Ngô Đình Diệm, qua chiến tranh leo thang có sự can dự của người Mỹ, với Tết Mậu Thân, với hình ảnh những nấm mồ tập thể ở Huế được tìm thấy và khai quật trong tiếng nhạc Exodus rờn rợn.

Hai mươi năm đời sống Sài Gòn là những thân thương của thời học sinh bướng bỉnh, phá phách ở trường nữ trung học Lê Văn Duyệt mà đã đưa đến những trận đòn nhừ tử. Hai mươi năm với một tương lai huy hoàng chờ đón gia đình tác giả với anh du học Mỹ, chị du học Đức, còn tác giả là một bác sĩ tương lai.

Thế rồi 30.04.1975 đến.

Được bốc bằng trực thăng ra chiến hạm U.S.S. Midway, rồi qua căn cứ hải quân Mỹ ở Subic Bay, Philippines, qua đảo Wake, trại Fort Chaffee ở Arkansas trước khi được định cư ở vùng Chicago. Vì gia đình đông nên phải chia ra để dễ tìm được người bảo trợ. Tác giả ghi nhận đã có những người Mỹ tốt như ông bà Kieft và người Mỹ xấu như ông Billings là một thứ ma cô làm chủ những ổ điếm trong vùng.

Cô sinh viên y khoa Minh Đức Vu Ngoc Anh ngày nào giờ đây ở Mỹ cũng mơ ước trở thành bác sĩ theo truyền thống nhà Việt Nam phải có “kỹ sư, bác sĩ” mới làm nở mày, nở mặt cho cha mẹ. Vào đại học cô lấy các lớp sinh học, hoá học. Nhưng rồi mộng không thành. Tác giả gặp Philip Sawyer, một sinh viên đạo đức mà dưới mắt những bạn cùng trường thì có vẻ như là người đồng tính. Nhưng Ngoc Anh lại mê và kết hôn với Philip dù rằng bố mẹ đã nhiều lần tìm cách giới thiệu những chàng trai Việt từ những gia đình quen biết giầu có.

Philip và Ngoc Anh sống bình dị, độc lập, di chuyển thường xuyên, nếp sống có khi no khi đói, có khi gần đổ vỡ. Họ làm những gì theo sở thích chứ không theo ý cha mẹ. Đời sống Mỹ qua cái nhìn của Ngoc Anh cũng có những kỳ thị. Khi ở New York, Ngoc Anh gặp cô gái tên Ruth gốc Do Thái, sống chung với Jerome người da đen. Vì khác biệt màu da và tôn giáo mà gia đình hai bên không chấp nhận nhau. Jerome ra đường đón taxi cũng còn bị kỳ thị chỉ vì màu da.

Nếp sống, sở thích của Philip và Ngoc Anh cho họ những cơ hội gặp sinh viên nước ngoài. Căn nhà ở bang Kansas, mua được cũng là do ý Chúa, đã là nơi trọ học cho nhiều sinh viên từ Shanghai, Bangkok, Mogadishu, New Delhi và cũng là nơi truyền đạo tại gia.

Lúc đó Việt Nam đã bắt đầu mở cửa. Philip và Ngọc Anh có một cơ hội đi Việt nam làm việc truyền đạo nhưng Ngoc Anh e ngại vì bản thân và gia đình đã trải qua cuộc đời ở Việt Nam với nhiều biến động và bất trắc. Thêm vào, giờ đây tác giả đang có con nhỏ. Nhưng rồi như có sự sắp xếp của Thượng Đế, vào một ngày của tháng Tư, Ngoc Anh gặp được bà Fitzstevens, tức cô bé Esther Van Hine thường chơi đùa với mẹ của tác giả trong những ngày cô ở Hà Nội. Câu chuyện về gia tộc, về những người truyền giáo Mỹ mà ông bà, bố mẹ cô đã gặp được kể lại. Đây là động lực thúc đẩy tác giả trở về.

Năm 1998 Ngoc Anh về Việt Nam tìm lại nơi thờ phượng Chúa của mẹ và ông ngoại ngày trước. Ở đó tác giả gặp bà cụ Hoàng, bạn của ông ngoại Tieu, người vợ hai của một ông chồng đã được ông ngoại hướng dẫn theo đạo mấy chục năm trước. Cụ bà, nay 98 tuổi, có một người con làm mục sư chết sớm, giờ người cháu cũng làm mục sư. Nơi đầu giường của bà còn hai cuốn Thánh Kinh cũ nát.

Với nhiều trích dẫn từ Kinh Thánh nên đọc Song of Saigon cho độc giả cảm tưởng như đang ở trong thánh đường vào sáng Chúa Nhật để nghe một mục sư có tài hùng biện kể lại những câu chuyện xảy ra trong đời sống hằng ngày với nhiều biến chuyển ly kỳ có sự sắp xếp nhiệm màu của Thượng Đế.

Điều này có thể làm nhàm chán cho những ai không có một đức tin vững vàng vào Chúa.

© 2003 Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in đọc sách and tagged , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s