Phạm Thị Hoài: Văn học “Hậu đổi mới” là thời kỳ hoàng kim của tự kiểm duyệt

Bùi Văn Phú

Thập niên 1960 Đại học Berkeley nổi tiếng về giáo dục trong các ngành khoa học thực nghiệm, tự nhiên cùng lúc với phong trào tự do phát biểu quan điểm chính trị trong sân trường (Free Speech Movement) bùng lên và khai sinh ra phong trào chống chiến tranh tại Việt Nam. Đối với vấn đề Việt Nam, thời chiến và hậu chiến tranh, từ sân trường đại học này nhiều tiếng nói đã được cất lên.

Những năm ngay sau cuộc chiến, dù quan hệ Mỹ-Việt Nam đông lạnh nhưng nơi đây cũng đã đón những diễn giả từ Hà Nội đến nói chuyện toán, chuyện khoa học như giáo sư Vương Tụy của Viện Toán học, giáo sư Nguyễn Văn Hiệu của Viện Vật lý, sau này có Võ Nguyên Anh.

Về chính trị có giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, ông Võ Văn Ái và cô Ỷ Lan, có Tổng Lãnh sự Việt Nam Nguyễn Xuân Phong, giáo sư Đoàn Viết Hoạt. Sang lãnh vực khoa học nhân văn, xã hội có các nhạc sĩ Phạm Duy, Trần Văn Khê, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đạo diễn Trần Văn Thuỷ.

Đến Đại học Berkeley, có diễn giả bị biểu tình phản đối, có diễn giả tạo ra những tranh luận căng thẳng, có người đem lại những đối thoại thích thú. Đó là chuyện rất bình thường ở Berkeley và những điều đó không phải chỉ xảy ra cho diễn giả người Việt mà cho nhiều người không phân biệt chủng tộc, màu da, chức quyền.

Gần đây nhất nhà văn Phạm Thị Hoài đã đến nói chuyện.

*

“Cô ấy có mái tóc thật ấn tượng” là nhận xét của một sinh viên khi thấy nhà văn Phạm Thị Hoài bước vào phòng hội thảo. Người sinh viên gốc Việt đang học năm thứ tư ngành công nghệ điện tử, có sở thích đọc sách và muốn biết về sinh hoạt văn học tại Việt Nam nên đến nghe, cùng với khoảng 60 người khác.

Ít phút trước đó chị đã gặp gỡ và trao đổi với sinh viên các lớp Việt ngữ của giáo sư Trần Hoài Bắc và lớp văn học Việt Nam của giáo sư Nguyễn Nguyệt Cầm.

Chị Hoài, dáng người thấp nhỏ, với một mái tóc ngắn, cực kỳ ngắn của phái nữ, hôm nay mặc chiến áo dài màu đen có vân hoa, may lối tân thời, giao lưu với với chiếc quần bò ống loa, đi giầy nhung, trông rất là “talawas”.

Giáo sư Peter Zinoman (trái) và nhà văn Phạm Thị Hoàitrong buổi nói chuyện ở Đại học Berkeley, tháng 2.2004

Giáo sư Peter Zinoman (trái) và nhà văn Phạm Thị Hoài. Đại học Berkeley, tháng 2.2004

Buổi nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài diễn ra vào chiều thứ Ba, ngày 3.2.2004 với đề tài: “Guồng máy văn nghệ tại Việt Nam thời hậu đổi mới, hậu cộng sản (và hậu hiện đại),” một cái tựa tự nó đã khó cho người nghe phân định được những mốc thời gian trong một nền văn học mới có những đột phá chỉ chừng hơn một thập niên gần đây thôi.

Phó giáo sư tiến sĩ Peter Zinoman, trưởng Trung tâm Nghiên cứu Đông nam Á của Đại học Berkeley, giới thiệu nhà văn Phạm Thị Hoài như là một nhà văn trẻ nhất, sinh năm 1960, trong số những nhà văn gồm Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong thời kỳ cởi trói văn nghệ vào giữa thập niên 1980 ở Việt Nam. Thời còn đi học, năm 17 tuổi chị đã có học bổng du học tại Cộng hòa Dân chủ Đức về ngành thư viện và văn khố. Năm 1983 chị về nước và làm công tác tại Viện Sử học ở Hà Nội.

Năm 1988, nhà xuất bản Trẻ cho ra đời Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài và được độc giả chú ý nên tên tuổi của chị vang lên trên văn đàn từ đó. Tác phẩm này đã được dịch ra bảy ngôn ngữ khác trong đó có tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Pháp. Theo giáo sư Zinoman, nhà văn Phạm Thị Hoài là một tiếng nói của phái nữ, một tiếng nói có quan điểm phản kháng với chế độ tại Việt Nam, vì thế kể từ giữa thập niên 1990 những tác phẩm của chị bị cấm lưu hành trong nước.

Thời gian này chị theo chồng về Đức và sống ở đó cho đến ngày nay. Ở nước ngoài, chị có thêm những tác phẩm mới như Marie sến (tiểu thuyết, 1996), Thực đơn Chủ nhật (tập truyện ngắn, 1996) và Chuyện Lão tượng Phật Di lặc và nàng Nậm Mây (tiểu thuyết, 1998). Kể từ năm 2000, chị sáng lập và làm tổng biên tập một mạng điện tử chuyên về văn học talawas.org [1], một diễn đàn xuyên quốc gia, nghiêm túc, được nhiều người trong và ngoài nước cộng tác và tìm đọc.

Nhà văn Phạm Thị Hoài và tác phẩm đầu tay Thiên Sứ

Nhà văn Phạm Thị Hoài và tác phẩm đầu tay Thiên Sứ

Sau phần giới thiệu, nhà văn Phạm Thị Hoài mở đầu bài nói chuyện của mình, bằng tiếng Việt, với giọng nói rất bắc, được giáo sư Zinoman diễn giải bằng tiếng Anh: “Điều tôi sắp trình bày có thể là điều rất xa lạ. Nhưng đó không phải lỗi tại tôi. Lỗi là những câu chuyện liên quan đến Việt Nam luôn là những câu chuyện không được kể ra đúng lúc và đúng chỗ đối với mọi người. Nhất là khi câu chuyện được kể ra tại một đại học Mỹ. Hôm nay tôi có nhiệm vụ chia xẻ với những người quan tâm và mời những người chưa quan tâm để chia xẻ câu chuyện ấy.”

Chị Hoài nhắc đến sự nghiệp văn chương đầu đời của mình khởi đi từ 33 năm về trước, khi ở tuổi hơn 10, cô học trò từ một thôn xã nhỏ bé của tỉnh Thanh Hoá đã gửi bài dự thi văn do báo Thiếu nhi Tiền phong tổ chức. Chị chẳng còn nhớ gì nhiều về bài đã gửi dự thi, nhưng đại ý là câu chuyện về một đứa bé lười, học dốt nhưng mẹ viết thư cho bố đang ở chiến trường xa nói là con ngoan, học giỏi. Đứa bé tình cờ đọc được lá thư nên cảm thấy xấu hổ và quyết phấn đấu để trở thành người tốt hơn.

Thời đó viết về chiến tranh là điều dễ hiểu. Văn chương, chữ nghĩa, giáo trình ở Việt Nam bị bao phủ bởi chiến tranh, bởi xác quân thù, là thơ văn khơi động lòng yêu nước, ca ngợi tinh thần hy sinh để chống ngoại xâm. Từ thế giới bên ngoài nhìn vào, chị Hoài nói: “nhân loại tiến bộ có người sáng thức dậy mơ được làm người Việt Nam”.

Đó là quá khứ chiến tranh. “Ngày nay, qua một phần ba thế kỷ, thế giới đã bao nhiêu lần thay đổi. Xã hội Việt Nam cũng vậy, không còn đóng kín mà phải thay đổi.”. Chị đưa ra một cái nhìn tổng thể như thế. Trong văn học, sự đổi mới trong khung thời gian từ 1986 đến 1989 không có kết thúc chính thức và rõ ràng. Chị tạm coi thời kỳ đó kết thúc vào năm 1995 để làm mốc thời gian cho thời kỳ “Hậu đổi mới” bắt đầu. Và đó là điều chị muốn trình bày ngày hôm nay về sinh hoạt văn học ở Việt Nam trong giai đoạn sau 1995.

Theo chị, kể từ giữa thập niên 1990 sân chơi văn học Việt nam đã được cắm cờ, phân định rõ ràng với những tự do – và những giới hạn – cho nhà văn theo một nội quy căn bản là: muốn làm gì thì làm miễn đừng làm chính trị.

Chị nêu lên những trở ngại chính đang làm cho sinh hoạt văn học Việt Nam khựng lại, thiếu những cái mới mà nguyên do là vì bị gò bó chính trị.

Thứ nhất, ở Việt Nam ngày nay thiếu tác phẩm dịch từ những kiệt tác của thế giới. Dù nhà nước không còn chỉ đạo công việc dịch thuật, nhưng lại không cho phép ai khác làm việc đó, nên tạo ra nhưng khoảng trống cho nền dịch thuật. Chị nhìn ra hiện tượng “Kim Dung hoá” đang lan rộng trong nước với những bộ tiểu thuyết kiếm hiệp xuất hiện khắp hang cùng ngõ hẻm của xã hội Việt Nam. Có nhận định cho rằng đó là vì lợi nhuận, vì thị trường đòi hỏi. Nguyên do, theo chị Hoài không phải là thế, nhưng là một sợi dây xích vô hình không cho phép tự do làm văn học, mà dịch thuật là một mảng. Vì nếu có tự do thì những tác phẩm của George Orwell, của Vladimir Nabokov (Lolita), của Alexander Solzhenitsyn (Quần đảo Gulag) hay Những thiên đường mù đã có mặt ở Việt Nam với hàng trăm nghìn độc giả, những người không có công ăn việc làm, đón đọc. Nhìn vào sự thực đó – hiện tượng Kim Dung hoá – do những đầu nậu xuất bản chủ trương, làm thương tổn sự suy nghĩ của bao nhiêu con người và chị so sánh điều đó như những người nhập cảng xe gắn máy về đến tận làng quê cho dù nhiều người dân không biết dùng phanh, khiến số tử vong vì tai nạn ngày nay đã cao hơn số người chết trong hai cuộc chiến biên giới Việt-Trung và ở chiến trường Kampuchia cộng lại.

Chị kể chuyện ngày còn bé ở một thôn xã nhỏ của tỉnh Thanh Hoá, thường đi tắm nhờ giếng của xã mà chị có cơ hội gần gũi với một thư viện nhỏ, có chưa đến một nghìn đầu sách, ở đó chị đã đọc bao nhiêu tác phẩm dịch của những tác giả danh tiếng. Không được đọc những tác phẩm của De Golier, Shakespeare, Hemingway với bản dịch của Tế Hanh, Thế Lữ thì ngày nay chưa chắc chị đã trở thành nhà văn.

Trở ngại thứ hai cho sự phát triển văn học “Hậu đổi mới” là sự tự kiểm duyệt. Người ta cứ tưởng rằng sau khi có đổi mới thì những nhà văn sẽ hồ hởi dùng tài năng của mình để đóng góp cho mọi mảng của nền văn học. Nhưng thực tế, theo chị Hoài: “người làm văn hoá, văn nghệ trong nước ngày nay phải tự hướng đạo thay vì tự lãnh đạo. ‘Hậu đổi mới’ là thời kỳ hoàng kim của tự kiểm duyệt”. Nhiều người thường hỏi tôi: “Ở Việt Nam có được tự do viết không?” Câu trả lời là: “Ở Việt Nam có tự do muốn viết gì thì viết. Nhưng chị coi tầm nghĩ luôn luôn là tầm viết”. Vì thế câu hỏi, theo tôi, phải là: “Ở Việt Nam có được tự do nghĩ không?”

Ngày nay ở Việt Nam chỉ có một nơi được tự do văn nghệ nhất, chị Hoài đưa ra dẫn chứng, đó là báo An ninh Thế giới, “tờ báo lá cải hơn mọi tờ lá cải” do Bộ Công an phát hành, đang là bảng chỉ đường cho sinh hoạt văn học Việt Nam đương đại. Tờ báo có số in nhiều, vừa mang tính thương mại, vừa chính thống, với khẩu hiệu: “bảo vệ an ninh tổ quốc” và qua những trang báo đó, chị và những nhà văn trong nước nhìn ra những người đứng đầu tờ báo là người thổi còi – cho văn học Việt Nam – thổi sai cũng không sao vì chẳng có người thổi còi khác.

Để kết thúc bài nói chuyện nhà văn Phạm Thị Hoài kể rằng cách đây ba tháng khi trở lại thôn xã xưa ở Thanh Hoá chị không còn tìm thấy thư viện cũ. Nơi đó giờ được biến thành nhà khách, trên tường có treo hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên dưới có hàng chữ nhắn nhủ nhân dân sống và làm việc theo gương Bác, có những rèm cửa sổ sản xuất ở Thái Lan, có bình tích, bộ chén trà mang nhãn Trung Quốc. Chị quan sát quanh huyện thì không thấy có một tiệm sách báo nào, không có Internet, mà lại có ba, bốn nơi với những trò chơi điện tử thu hút đông đám trẻ. Những nhà người quen chị ghé thăm không có sách gì ngoài sách giáo khoa và lịch.

Hôm đó đi cùng với một người bạn Pháp, cô ấy hỏi tôi: “Làm nhà văn Việt Nam có hạnh phúc không?” Tôi trả lời: “dù sao cũng không bất hạnh bằng nhà văn Pháp vì chúng tôi chưa có những văn hào lớn. [Chúng tôi] còn rất nhiều việc phải làm.”

Bài nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài dừng lại ở đó.

*

Sang phần câu hỏi, chị Nguyễn Nguyệt Cầm, hiền thê của giáo sư Zinoman, giúp làm cầu nối ngôn ngữ cho mọi người.

Nếu mọi thứ là chính trị, từ vấn đề quan hệ nam nữ, vấn đề nhà đất, vậy thì cái gì không phải là chính trị?

Nhà văn chọn thái độ là tuyệt đối không nói gì đến chính trị.

Học sinh bậc trung học đọc sách gì gọi là văn chương?

Nền giáo dục của Việt Nam hiện nay là mô hình khoa cử thời nho giáo. Người ta đi học không phải là để có kiến thức cho bản thân, hay vì yêu mến trí thức, mà dùng kiến thức qui định để thi đậu và vào dời. Vì thế học sinh bình thường tại một trường trung học bình thường không được đọc sách nào ngoài những sách qui định bởi nhà trường.

Tôi có đứa cháu gái 11 tuổi. Bốn tuần về thăm nhà tôi không thấy cháu đọc sách gì ngoài sách giáo khoa. Tôi có mua quyển Alice ở xứ sở kỳ diệu (Alice in the Wonderland) tặng cháu. Nhưng rồi xảy ra chuyện cãi cọ với mẹ cháu, tức em gái tôi. Em tôi cho rằng nếu cháu mất thời gian vào những cuốn sách như thế thì sẽ không còn thời gian học để đi thi. Một cuốn sách như thế, không nằm trong qui định của giáo trình, không ai đọc để đi thi.

Ở Việt Nam ngày nay chỉ có người đã về hưu là đọc sách. Họ không còn phải đọc những gì qui định. Họ được tự do.

Những nhà văn mới họ đến từ đâu?

Có hiện tượng kỳ lạ là người đọc ngày nay là những người già, sắp chết. Có một lớp người trẻ rất muốn viết. Họ viết cho ai? Chỉ cho họ, cho bạn bè đọc. Họ không biết độc giả của mình là ai. Không có những nhóm độc giả trong văn học. Một thanh niên sống đến tuổi 19-20 không có thời gian đọc sách. Sống đến năm 25-27 cũng không có thời gian đọc sách vì học đại học phải lo thi. Từ tuổi 27 đến 65 thì làm nhiều thứ để lo cho gia đình. Trừ những người thất nghiệp mới có thời gian. Từ tuổi 67 trở đi mới có rất nhiều thời gian để đọc.

Điều cô vừa nói đúng cho miền Bắc không có sách, nhưng có đúng cho miền Nam không?

Mặc dù miền Nam đã luôn luôn là một vùng đất khác. Nhưng kể từ sau năm 1975 thì miền Nam cũng nằm trong guồng máy văn hoá, chính trị như miền Bắc.

Vì sao cô chọn hình ảnh một “guồng máy”?

Thuật ngữ đó tương đối phổ biến. Không phải là cái gì ghê gớm lắm.

Cộng đồng người Việt ở Mỹ có thể đóng góp được gì cho xã hội Việt Nam?

[Chị Hoài suy nghĩ rất lâu rồi trả lời]: Tôi có thể trả lời câu hỏi này rất nhanh, hay rất chậm (nhiều tiếng cười). Tôi biết không chỉ người Việt ở Mỹ mà người Việt ở 77 quốc gia khác trên thế giới, tôi biết con số này vì họ truy cập vào đọc diễn đàn talawas, dù ở đâu, nhưng mọi người luôn luôn đặt câu hỏi rằng mình có thể làm được gì cho Việt Nam. Đó là một câu hỏi rất Việt Nam.

Tôi cũng biết có người Mỹ, người Đức, người Pháp sống ở Việt Nam mà không ai đặt câu hỏi: họ có thể làm được gì cho nước Mỹ, nước Đức hay nước Pháp. Như thế rõ ràng phải có lý do đặc biệt để những người như em ở Mỹ, ở Đức, ở Pháp đặt câu hỏi như thế.

Cách đây mười năm, tôi có để một nhân vật trong tác phẩm của mình nói rằng: đất nước này nếu không ai chú ý đến nó nữa thì mới khá được. Nhưng bây giờ tôi không tin rằng không làm gì là giải pháp tốt nhất. Có quá nhiều việc phải làm. Nhưng cần biết việc nào làm trước và chung sức nhau làm.

Thí dụ, tôi có nói chuyện với một nhà hoạt động chính trị, đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, rằng bây giờ chỉ cần mỗi gia đình Việt Nam nhận một đứa trẻ miền Bắc vào sống trong gia đình mình thì là hành động hữu hiệu hơn các hoạt động chính trị khác.

Thật sự tôi không biết là nên làm gì trước, làm gì sau và ai sẽ làm cái gì. Cần phải hiểu chính xác trước khi bắt tay vào làm một việc gì.

Ở Việt Nam có trường dạy viết văn Nguyễn Du. Những người tốt nghiệp từ trường đó ra họ làm gì? Những nhà văn cùng thời với chị như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo có từ trường đó mà ra không?

Tôi không tốt nghiệp từ trường đó. Chị Dương Thu Hương tốt nghiệp khoá đầu tiên. Còn những nhà văn khác tôi nghĩ là không.

Hôm về nước mới đây, có 5 sinh viên tốt nghiệp từ trường viết văn Nguyễn Du đến gặp tôi và họ có nói vì nghề nghiệp nên phải đọc tác phẩm của một số nhà văn thế giới. Không đọc thì không làm được bài. Đọc xong, họ nói những nhà văn thế giới viết rất khó hiểu, rất kém, nếu viết như thế mà nổi tiếng thì mình có thể viết hay hơn.

*

Nhận xét trên của những sinh viên vừa tốt nghiệp trường viết văn ở Việt Nam có lẽ là phản ánh khoảng trống trong dịch thuật, là sự thiếu đọc sách, là tầm nhìn văn học bị giới hạn bởi chính trị, những lý do khiến văn học trong nước trì trệ như một số nhà văn đã lên tiếng gần đây.

Đó cũng là điều mà nhà văn Phạm Thị Hoài muốn chia xẻ với mọi người trong buổi nói chuyện. Câu chuyện của chị có thể là những điều rất xa lạ. Nhưng những điều đó đang xảy ra ở Việt Nam.

*

Đây là chuyến đi Mỹ đầu tiên của nhà văn Phạm Thị Hoài, do lời mời từ Trung tâm Nghiên cứu Đông nam Á của hai Đại học U.C. Berkeley và U.C. Los Angeles. Trong những năm gần đây, mỗi năm hai trung tâm đã chọn một người làm văn hoá, văn nghệ từ Đông nam Á và mời đến trường nói chuyện về sinh hoạt văn học ở quốc gia nguồn gốc của họ. Diễn đàn này đã có Nguyễn Huy Thiệp và Trần Văn Thuỷ, nay có nhà văn Phạm Thị Hoài.

Ngoài hai buổi nói chuyện với cùng một đề tài tại hai đại học nam, bắc California, chị Hoài cũng có những cơ hội gặp gỡ với giới sinh hoạt văn học trong cộng đồng người Việt ở Quận Cam và vùng Vịnh San Francisco. Qua những tiếp xúc, chị thổ lộ hoài bão thực hiện Giải văn học Bùi Giáng hằng năm để tưởng nhớ một thi nhân vượt thời đại và đuợc nhiều giới yêu thích. Mỗi năm chỉ có một giải duy nhất trao cho tác giả của một công trình văn học, trong một thể loại nào đó, bằng Việt ngữ, được phổ biến qua in ấn hay mạng điện tử trong năm, từ bất cứ nơi nào trên thế giới. Công việc đang được tiến hành, tài chánh là điều cần thiết. Nhiều người chị gặp trong chuyến đi Mỹ đã có những hứa hẹn hỗ trợ.

Chị lo ngại không có đủ tiền chi phí. Có người đề nghị tìm nguồn tài chánh từ những tổ chức văn hoá quốc tế hay những nhà bảo trợ giàu có. Theo ước tính của chị mỗi năm tốn chừng mười nghìn đô la để lo mọi thứ.

Nếu thế, chỉ cần mỗi năm có 100 người quan tâm, mỗi người ủng hộ 100 đô la thì đủ. Không biết sẽ có nhiều người còn thiết tha đến văn học Việt Nam như thế không?

___

[1] talawas là ghép những từ Việt và Đức. tala là “ta là”, was tiếng Đức có nghiã “cái gì.” talawas có nghĩa đi tìm xem “ta là cái gì.”

[ảnh trong bài của tác giả]

© 2004 Buivanphu

___

Nguồn: Văn số 86 & 87 tháng 2 & 3.2004

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in văn học nghệ thuật and tagged , , . Bookmark the permalink.

One Response to Phạm Thị Hoài: Văn học “Hậu đổi mới” là thời kỳ hoàng kim của tự kiểm duyệt

  1. Pingback: Bùi Văn Phú – Độc giả đến từ đâu và được đọc những gì? : talawas blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s