An American in Hanoi: một cái nhìn về Việt Nam đương đại

Bùi Văn Phú

[An American in Hanoi: America’s Reconciliation with Vietnam của Desaix Anderson. Nxb EastBridge. White Plains, New York. 2002. 284 tr. ]

Tháng 7 năm 1995 Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ, Tổng thống Bill Clinton nói: “Tôi tin rằng việc bình thường hóa quan hệ và những thảo luận với Việt Nam sẽ dẫn đến những thay đổi tương tự như đã xảy ra tại Ðông Âu và Liên bang Xô Viết”. Vì lời tuyên bố này mà Hà Nội đón nhận việc bang giao với Hoa Kỳ một cách lạnh nhạt.

Sau khi có quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Desaix Anderson được bổ nhiệm làm đại biện tại Hà Nội vào tháng 8 năm 1995. Ðúng hai mươi năm sau khi người Mỹ cuốn cờ ra đi, ông trở thành nhà ngoại giao Mỹ đầu tiên trở lại phục vụ tại Việt Nam.

Nhiệm vụ của ông là giải thích chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Việt Nam. Trong An American in Hanoi, ông Anderson đã tường thuật lại những cuộc gặp gỡ giữa ông và Tổng Bí thư Ðỗ Mười, Chủ tịch Nước Lê Ðức Anh để giải thích rằng Tổng thống Clinton dù nói thế nhưng theo kiểu ngôn ngữ ngoại giao là “nói vậy mà không phải vậy”, để trấn an các nhà lãnh đạo tối cao của Việt Nam.

Nhưng có giải thích thế nào đi nữa thì lời tuyên bố của Tổng thống Bill Clinton đã khiến những nhà lãnh đạo Hà Nội lo sợ trong mối quan hệ với Hoa Kỳ tiềm ẩn một âm mưu mà họ gọi là “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ tại Việt Nam.

An American in Hanoi là những ghi nhận của tác giả trong thời gian làm đại biện Hoa Kỳ tại Việt Nam từ tháng 8 năm 1995 cho đến tháng 5 năm 1997 và những quan sát, nhận định về lịch sử quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam trong nửa thế kỷ qua. Nội dung có chương ghi lại những sự kiện lịch sử trong mối quan hệ hai nước, vào năm 1945 và năm 1978; có chỗ mang tính phân tích, nhiều nơi lại như bút ký, nhật ký ghi nhận những cuộc gặp gỡ với nhiều lớp người Việt khác nhau, từ quan chức như Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Ðoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Cơ Thạch, Trương Tấn Sang cho đến những thường dân. Ông có khả năng đi sâu vào đời sống dân chúng nhờ sành sỏi tiếng Việt.

Tác giả đã viết ra nhiều chi tiết và quan sát về những nhân vật đã hoặc đang lãnh đạo Việt Nam và tầm nhìn của họ. Quan trọng nhất là ông đại biện và các quan chức chính quyền Mỹ như Cố vấn Anthony Lake, Bộ trưởng Robert Rubin đến thăm Việt Nam đều phải giải thích với quan chức cộng sản Việt Nam là Hoa Kỳ không muốn thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, như phát biểu của Tổng thống Bill Clinton khi quyết định bang giao. Lời nói đó mang tính đối nội hơn là một đề cương chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nhưng Việt Nam dường như không tin và yên tâm lắm.

Tổng Bí thư Ðỗ Mười phàn nàn với Cố vấn An ninh Quốc gia Anthony Lake là truyền thông Mỹ hay nói xấu Việt Nam. Ông Mười, với tư duy của một nhà độc tài trong một nước độc đảng, nói với ông Lake: “Chúng ta phải đưa truyền thông vào cùng một hướng để ủng hộ cải tiến quan hệ, không nhắm vào những việc tiêu cực như họ quen làm thế.”

Còn Ðào Duy Tùng, cầm đầu ban tư tưởng và là thành viên của Bộ Chính trị lúc bấy giờ, coi việc Mỹ dùng đài Châu Á Tự do (RFA) như một hành vi khiêu khích thì được ông Anderson giải thích rằng mục đích của đài nhằm đưa những thông tin khách quan đến cho thính giả Việt Nam. Tác giả nói với ông Tùng là bất cứ khi nào nhà nước nghe đài RFA loan tin thiếu trung thực thì cho biết để ông phản ánh lại với chính quyền Mỹ.

Trong vai trò đại diện ngoại giao ông Anderson thường nói với các quan chức người Việt là Hoa Kỳ chỉ muốn một nước Việt Nam giàu mạnh, là bạn chiến lược của Hoa Kỳ.

Làm sao để Việt Nam giàu mạnh đã được gói ghém trong An American in Hanoi. Theo tác giả, bản hiệp định thương mại Mỹ – Việt, và trong những năm trước mặt là việc Việt Nam tham gia AFTA (Tổ chức Tự do Mậu dịch Á châu) và WTO (Tổ chức Mậu dịch Thế giới) sẽ là khung sườn giúp Hà Nội làm kinh tế để đưa đến một nước Việt Nam ổn định, phát triển, hội nhập vào kinh tế vùng và toàn cầu. Qua nhiều tiếp cận, theo hiểu biết của tác giả thì cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ để làm hài lòng một số ít thành phần bảo thủ trong Đảng, còn hầu hết đều muốn cải cách để tiến đến kinh tế thị trường mau lẹ.

Tác giả nhận định việc giải tư – hay theo ngôn ngữ của Hà Nội là “cổ phần hoá” – các công ty quốc doanh; cải tổ các định chế luật pháp, tài chánh và ngân hàng; giảm bớt nạn tham nhũng, quan liêu hành chánh; nạn chính quyền cấp trên và dưới không thống nhất chính sách là những cải tổ phải được Hà Nội thúc đẩy thì mới đưa đến phát triển kinh tế. Ông đưa những thí dụ thất bại cụ thể do những điều kiện xấu nêu trên gây ra: dự án xây sân chơi gôn ở Phan Thiết, dự án đầu tư của các công ty Caterpillar, Cargill và American Rice.

Về mặt xã hội, tác giả quan sát qua những năm áp dụng chính sách cải cách kinh tế, người dân có mức sống cao hơn và đưa con số xe gắn máy Honda làm dẫn chứng. Ngày ông Anderson tới Việt Nam vào năm 1995, lúc đó là thời đại xe Honda Dream, với khoảng nửa triệu xe lưu hành, giá một chiếc là 2 ngàn đô la. Ngày nay nhiều loại Honda khác chạy khắp thành phố cũng như thôn quê và số lượng xe quá nhiều và giá lại rẻ.

Còn các mặt khác như y tế, giáo dục ngày càng xuống cấp. Khác biệt giầu nghèo do các cán bộ tham nhũng có thể làm bùng nổ sự chống đối.

Những tiếp xúc của tác giả với quần chúng đưa ra hai khuynh hướng.

Trong một buổi mạn đàm vào năm 1996 về việc Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra trước quốc hội kêu gọi phải triệt tham nhũng, một người bạn trẻ ở lứa tuổi 30 là một công nhân viên nói với tác giả: “Cả hệ thống tham nhũng từ trên xuống. Nó đã mục nát. Nỗ lực của thủ tướng chỉ giúp rất ít. Tham nhũng đã đâm rễ vào cả hệ thống rồi”. Những người như anh bạn trẻ đây thờ ơ, không còn hy vọng gì ở nhà nước nữa. Theo anh bạn trẻ, nạn xì ke ma túy tung hoành làm băng hoại xã hội mà cũng không diệt được vì công an đã bị mua chuộc từ trên xuống dưới.

Nhưng tác giả cũng gặp những người trẻ khác lạc quan hơn. Ðó là một bạn trong lứa tuổi sinh viên, con gia đình cách mạng, có đời sống ổn định. Anh này nói rằng từ ngày đổi mới cuộc sống đã khá hơn cho nhiều người. Anh không muốn Việt Nam thay đổi như Ðông Âu hay Liên Xô và tin rằng Ðảng Cộng sản Việt Nam tự nó cũng sẽ cải cách để thành một chính đảng như tại những nước Ðông nam Á khác và nếu Đảng tiếp tục chính sách phát triển kinh tế thì Đảng sẽ thắng cử khi có một cuộc bầu cử tự do.

Hai cái nhìn trên là thế tiến thoái lưỡng nan mà Việt Nam đang phải đương đầu. Không diệt tham nhũng thì không thể phát triển kinh tế và càng ngày dân càng mất niềm tin ở nhà nước. Còn quyết tâm cải cách kinh tế để phát triển rồi sẽ phải đi tới cải cách chính trị.

Vì thế nhiều lần tác giả đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không cần phải tạo sức ép để buộc Hà Nội cải cách chính trị vì làm thế sẽ có phản ứng không tích cực từ phiá Việt Nam vì tinh thần độc lập và quá trình lịch sử đấu tranh luôn luôn được người Việt coi trọng. Người Việt sẽ tiến bước theo nhịp điệu riêng của họ chứ không muốn bị người ngoài thúc đẩy. Theo tác giả chỉ cần thi hành đúng bản hiệp định thương mại thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ là bạn và quyền lợi của Hoa Kỳ sẽ đạt được.

An American in Hanoi là một tác phẩm mà những ai muốn tìm hiểu về Việt Nam cần đọc. Desaix Anderson đưa ra nhiều quan sát và nhận định sâu sắc bằng vào 35 năm kinh nghiệm trong ngành ngoại giao. Không chỉ trong thời gian ông làm việc tại Hà Nội mà từ giữa thập niên 1960 khi ông là một nhà ngoại giao trẻ đi khắp vùng nông thôn miền Nam để phân phối gia súc, giúp xây trường học, bệnh xá; rồi quan sát tình hình Việt Nam sau năm 1975 từ toà đại sứ Mỹ ở Bangkok và làm trưởng phòng Ðông Dương Sự vụ tại Bộ Ngoại giao.

Qua An American in Hanoi độc giả được thấy bang giao Hoa Kỳ và Việt Nam dù đã được thiết lập ở cấp cao nhất nhưng vẫn chưa được bình thường và thỉnh thoảng lại có sóng ngầm nổi lên.

© 2004 Buivanphu

[Bài đã đăng trên talawas 27.04.2004]

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, đọc sách and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s