Reagan và Reaganomics: nhìn từ Berkeley, San Jose và từ nước ngoài

Bùi Văn Phú

Khi Ronald Reagan thắng cử tổng thống vào tháng 11.1980 tôi đang học ở Đại học Berkeley, một tụ điểm sinh viên nổi tiếng chống chính phủ, không phân biệt đảng cầm quyền là dân chủ hay cộng hòa. Tổng thống Jimmy Carter với chính sách đối ngoại đặt trọng tâm vào nhân quyền, nhưng ở Sproul Plaza cũng thường có những cuộc xuống đường phản đối chính sách của Mỹ ở Iran, Afghanistan, ở Nicaragua hay El Salvador.

Sân trường Đại học Berkeley đầu thập niên 1980

5 giờ chiều ngày bầu cử tổng thống năm 1980, tôi và nhiều bạn đang ngồi trong phòng ăn của ký túc xá chờ cơm, bỗng một sinh viên chạy xuống, mặt đầy vẻ tức giận, la lớn: “It’s not my fault. It’s not my fault.” – Không phải lỗi của tôi.

Mọi người ngạc nhiên không biết chuyện gì xảy ra. Giây lát sau anh sinh viên này nói đài truyền hình vừa dự phóng Ronald Reagan sẽ làm tổng thống. Nhiều tiếng “Oh, no” bật ra từ miệng các sinh viên khi nghe tin này. Các thăm dò đưa ra trước ngày bầu cử cho biết Carter và Reagan ngang ngửa nhau. Năm giờ chiều, phòng phiếu các tiểu bang miền đông vừa đóng cửa nhưng ở California còn mở cửa cho đến 7 giờ tối. Thế mà kết qủa coi như đã rồi. Jimmy Carter trở thành tổng thống một nhiệm kỳ.

Sau ngày bầu cử còn có biểu tình lan rộng ra đến phố Telegraph với hàng nghìn người tuần hành theo sau một biểu ngữ lớn với hàng chữ: “Reagan kills children” – Reagan giết trẻ con. Mới đến Mỹ vài năm, tin Ronald Reagan thắng cử và phản ứng của sinh viên Berkeley đã tạo cho tôi một thắc mắc: Tại sao sinh viên Berkeley lại ghét Reagan đến thế?

Tổng thống Jimmy Carter thời đó là ân nhân của người Việt vượt biển. Ông đã ra lệnh cho tàu chiến Mỹ vớt thuyền nhân, kí ban hành luật cho định cư hàng trăm ngàn người tị nạn. Nhưng kinh tế Mỹ đi xuống, khan hiếm xăng dầu, giá tăng vùn vụt mà mua xăng lại phải xếp hàng.

Tổng thống Carter yếu về đối ngoại, không giải quyết được vấn đề Iran bắt giữ 52 nhân viên Tòa đại sứ Mỹ làm con tin đã hơn một năm khiến vùng Trung Đông mất ổn định. Ông cũng không cứng rắn với việc Liên-Xô xâm lăng Afghanistan mà chỉ phản đối bằng cách không gửi đoàn vận động viên Hoa Kỳ sang Moscow và kêu gọi thế giới tẩy chay Thế Vận hội mùa hè 1980. Carter cũng ban hành lệnh cấm xuất khẩu nông phẩm qua Liên-Xô vài tháng.

Để phản đối quyết định của Tổng thống Carter không cho đoàn Hoa Kỳ đi dự Thế Vận hội, lúc đó đã có đề nghị tổ chức một thế vận hội đặc biệt tại Berkeley, nhưng việc này không thành. Vì thế đại đa số cử tri Mỹ đã quyết định cho Carter về vườn.

Khi Ronald Reagan lên cầm quyền, ở Nicaragua phe mác-xít Sandinistas chiếm quyền, ở El Salvador thì Hoa Kỳ ủng hộ một chính quyền độc tài với viện trợ và huấn luyện quân sự. Kế hoạch chống cộng của Hoa Kỳ ở châu Mỹ Latinh được thi hành. Việc này sau bị điều tra – báo chí gọi là vụ IranContra – và một số quan chức cao cấp của Reagan phải ra trước quốc hội trả lời về những cáo buộc buôn bán vũ khí vi phạm luật pháp Hoa Kỳ.

Dưới thời Reagan, trong trường có nhiều buổi chiếu phim và hội thảo về Mỹ Latinh. Phim “Hearts and minds” về chiến tranh Việt Nam cũng được chiếu lại. Những so sánh luôn được nêu lên: El Salvador liệu có phải là một Việt Nam nữa chăng? Những con đô-mi-nô mới sẽ có ngả theo cộng sản để vào cửa sau nước Mỹ?

Khi đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc là Jeane Kirkpatrick đến nói chuyện về chính sách Hoa Kỳ ở El Salvador, sinh viên vào nghe, thổi bong bóng rồi châm cho nổ và la ó phản đối vì họ không muốn nghe chỉ phía Mỹ, mà muốn có tiếng nói đối lập với Mỹ, với chính quyền thân Mỹ ở El Salvador. Một đòi hỏi rất hợp lí. Vì thế bất cứ câu nói nào của bà đại sứ cũng bị phản đối, để cuối cùng buổi nói chuyện bị cắt ngang và phải chấm dứt sớm. Buổi nói chuyện vào hôm sau của bà ở San Francisco cũng bị huỷ bỏ.

Dấu hiệu phản chiến ngày nay còn thấy trong những cửa hàng dọc Phố Hippies Telegraph

Nhiều phim tài liệu về phong trào chống chiến tranh Việt Nam từ sân trường này được chiếu lại. Qua những phim đó tôi hiểu được phần nào lí do sinh viên Berkeley không thích Reagan. Lúc làm thống đốc bang California, từ 1967 đến 1975, cũng là cao điểm của cuộc chiến tại Việt Nam, có lần vào năm 1969 Reagan đã ra lệnh đặt Berkeley trong tình trạng khẩn trương, gửi vệ binh quốc gia đến dẹp biểu tình, hơi cay từ trực thăng được phóng xuống tỏa mù sân trường.

People’s Park, ở góc đường Dwight và Bowditch, là một công viên thường bị sinh viên chiếm đóng mà các cơ quan nhà nước không làm gì được, dù đã có nhiều đề nghị biến nơi này thành cơ sở tiện ích cho sinh viên như bãi đậu xe hay kí túc xá. Nhưng như một biểu tượng sức mạnh của sinh viên nên thường có đụng độ giữa sinh viên và cảnh sát và những đề nghị, dự án trên chưa bao giờ thực hiện được. Đó là những ấn tượng mà Ronald Reagan đã để lại cho Berkeley.

Ronald Reagan lên cầm quyền đánh dấu một kỉ nguyên mới cho Hoa Kỳ với chính sách đối nội bảo thủ, đối ngoại cứng rắn với những quốc gia thù nghịch như Liên bang Xô Viết, khối cộng sản Đông Âu, phe tả ở châu Mỹ Latinh, phe giáo điều cực đoan ở Iran, Lybia. Chính sách của Reagan được thế giới chú ý ngay từ giây phút ông nhận chức.

Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter có hai biến cố lớn làm giảm uy tín nước Mỹ: Hồng quân Liên-Xô xâm lăng Afghanistan và 52 nhân viên Tòa đại sứ Mỹ ở Teheran bị bắt làm con tin. Carter đã tìm nhiều cách để đem con tin về, từ việc đưa lính Mỹ qua giải cứu nhưng thất bại, đến những thương thảo ngoại giao kéo dài đến những phút trước khi trao quyền tổng thống cho Ronald Reagan. Ngay trong giờ phút Ronald Reagan tuyên thệ nhậm chức thì những con tin người Mỹ được Iran thả sau 444 ngày bị bắt giữ.

Trong hồi kí tựa “Dutch” về cuộc đời Ronald Reagan, Edmund Morris viết: “52 con tin được thả ngay sau khi (Reagan) đọc diễn văn nhậm chức có phải là vì (Iran) lo sợ? Hay đó là sự chế diễu Carter lần cuốỉ, hay thời điểm chỉ đơn thuần do sự sắp xếp vận chuyển mà ra. Dù sự thực là thế nào, Reagan có những món quà của sự may mắn”.

Reagan chứng tỏ là một người cứng rắn trong đối ngoại: gửi quân qua Grenada, oanh tạc Lybia, yểm trợ Anh quốc dùng biện pháp quân sự lấy lại đảo Falklands từ Argentina, cam kết với Giáo hoàng Gioan-Phaolô II sẽ không để lính Liên-Xô vào dẹp Công đoàn Đoàn kết Ba Lan.

Tường Bá Linh trong Bảo tàng viện Ronald Reagan ở Simi Valley, California

Thách thức nổi tiếng nhất của Reagan là với lãnh tụ cộng sản Liên-Xô Mikhail Gobarchev về Bức tường phân chia Bá Linh: “Mr. Gobarchev, tear down this wall” – Ông Gobarchev, hãy kéo đổ bức tường này xuống – đã như khơi nguồn cho một giòng thác cuốn theo sự xụp đổ của các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên-Xô chỉ ít lâu sau khi Reagan hết nhiệm kỳ vào năm 1988.

Chủ trương chống cộng mạnh mẽ của Reagan được người Việt ở Mỹ quan tâm ủng hộ. Cử tri đoàn Hoa Kỳ, tức 535 người được trực tiếp bầu tổng thống, trong năm 1980 có cựu Chuẩn tướng Đỗ Kiến Nhiễu, đô trưởng cuối cùng của Thành phố Sài Gòn được chọn làm đại biểu Cộng hoà từ bang California.

Một số tổ chức kháng chiến như Mặt trận của tướng Hoàng Cơ Minh, Liên minh của ông Võ Đại Tôn thành hình khi chính quyền Reagan cứng rắn đòi hỏi Hà Nội rút bộ đội ra khỏi Cam Bốt, giải quyết vấn đề POW-MIA còn tồn đọng sau cuộc chiến. Vấn đề con lai, tù cải tạo cũng được Đặc sứ John Vessey và Thứ trưởng Quốc phòng Richard Armitage đặt ra với lãnh đạo Việt Nam.

Đọc thông điệp trước lưỡng viện quốc hội đầu năm 1983, Tổng thống Reagan đã giới thiệu một thiếu nữ gốc Việt, cô Jean Nguyễn, sinh viên Trường Võ bị West Point như một tấm gương thành đạt, can đảm và tinh thần yêu nước của người Mỹ gốc Việt.

Dịp khác, tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Thủ đô Washington, Tổng thống Reagan đã gọi chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến với lí tưởng cao cả. Cái nhìn đó của Reagan có ghi trong hồi kí “Dutch” như sau: “Trong những năm ở Sacramento, Ronald Reagan đã xem cuộc chiến là một lí tưởng cao cả. Tất cả những người lính trở về, dù đã tử trận, còn sống hay trở nên nghiện ngập thì đều là những anh hùng”. Và Reagan rất trân qúi họ, tổ chức nhiều buổi tiếp tân chào đón, lắng nghe những chuyện kể của họ về Việt Nam.

Như thế thì làm sao Ronald Reagan có được cảm tình với sinh viên Đại học Berkeley, chiếc nôi của phong trào chống chiến tranh Việt Nam.

Nhưng thế giới cũng có nhiều người thích Ronald Reagan. Khi tôi làm tình nguyện viên Peace Corps ở xứ Togo, châu Phi, tòa đại sứ khuyến khích công dân Mỹ làm việc ở đó hãy tham gia bầu cử qua bưu điện. Gần ngày bầu cử tháng 11 năm 1984, Phòng Thông tin Hoa Kỳ cho chiếu lại những cuộc tranh luận giữa hai ứng viên tổng thống Reagan-Mondale và phó tổng thống Bush-Ferrara cùng tổ chức thảo luận bênh chống. Tôi và một số bạn ủng hộ Reagan. Tôi tin vào chính sách Peace Through Strength – Hoà bình trong sức mạnh. Nhiều bạn khác ủng hộ Mondale.

Đêm bầu cử chúng tôi họp nhau tại chung cư của một tình nguyện viên làm việc ngay tại Thủ đô Lomé để theo dõi bầu cử qua đài Voice of America và đài Armed Forces Radio.

Quá nửa đêm, khi nghe tin Reagan tái thắng cử như đất lở, một anh bạn gốc trung bộ Hoa Kỳ đã bực tức la lớn, đập bàn, dậm chân. Chập sau có hai người cảnh sát địa phương gõ cửa, hỏi xem chuyện gì xảy ra mà ồn ào giữa đêm. Chúng tôi nói không có sự cố và kể lại sự việc. Nghe xong một cảnh sát hỏi anh bạn tại sao Tổng thống Reagan thắng cử, chúng tôi còn vui mừng, nhưng là người Mỹ anh lại không vui mà còn bực tức. Anh bạn trả lời rất tự nhiên: “Tôi không thích Reagan”.

Năm 1987, nhiều lần đi công tác ở Philippines, tôi thường nghe dân địa phương gọi Reagan là một “Good friend” vì đã ủng hộ họ chống lại nhà độc tài Ferdinand Marcos, cho dân Phi được quyền tự do chọn người lãnh đạo.

Nước Mỹ thời Ronald Reagan có chính sách kinh tế Reaganomics. Căn bản của chính sách này, lúc bấy giờ tôi không hiểu, mà chỉ nhớ được mấy điều: ngân sách quốc phòng Mỹ tăng vọt; mức thâm thủng ngân sách quốc gia cũng tăng lên gấp ba, đến 1 nghìn tỉ; trợ giúp tài chánh cho sinh viên tăng.

Trước có Basic Grant trợ giúp sinh viên 700 đô-la một năm, thời Reagan có Pell Grant thì số tiền lên đến 1200 đô-la. Tôi tốt nghiệp đại học mà chỉ nợ có 900 đô-la là nhờ những chương trình trợ giúp tài chánh cho sinh viên. Còn chuyện thuế tôi nhớ luật mới ban hành giảm thuế nhiều cho nhà giầu và có đánh thuế trên cả số tiền típ của những ai đi làm bồi bàn nhà hàng .

Ngân sách quốc phòng tăng đưa đến sự phát triển kỹ nghệ điện toán ở Thung lũng Điện tử. Người vượt biển tiếp tục đến Mỹ định cư, chọn San Jose làm nơi đất lành chim đậu, kéo theo thời đại “chồng tách, vợ ly” với biết bao công ăn việc làm, tạo đời sống ổn định cho người Việt trong vùng.

Sau 8 năm cầm quyền, 1981-1989, Ronald Reagan đã để lại một thế giới với nhiều tự do hơn và nhân loại không còn phải lo lắng về hiểm họa chiến tranh nguyên tử.

Ông làm được việc đó nhờ quan điểm “Trust. But verify” – Tin. Nhưng kiểm chứng – khi thảo luận với giới lãnh đạo cộng sản Liên-Xô.

(Tổng thống Ronald Reagan từ trần ngày 05.06.2004)

[ảnh trong bài của tác giả]

© 2004 Buivanphu

[Bài đã đăng trên VietBao.com 11.6.2004]

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in chính trị Mỹ, đời sống and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s