Ước mơ hoà bình của tôi

Bùi Văn Phú

27.01.1973

Tác giả. 27.01.1973

Tác giả. 27.01.1973

Ngày Hiệp định Ba Lê có hiệu lực. Tôi và một đứa bạn học đèo nhau trên chiếc Honda 50 c.c. chạy khắp phố phường xem có gì lạ, từ khu Ngã ba Ông Tạ, lên Ngã tư Phú Nhuận, rủ thêm một bạn nữa, rồi qua Lăng Ông, khu Bà Chiểu, Ða Kao trước khi vào trung tâm thành phố.

Sài Gòn vẫn chẳng có gì lạ hơn. Chỉ nhộn nhịp lên vì là những ngày cận Tết.

Hoà bình đã đến cho Việt Nam. Dân ta rồi sẽ không còn phải bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt
mang khăn áo lành
tôi chào đất nước
tôi nay thái bình…
[1]

Ở tuổi 17, ba đứa chúng tôi vui trong lòng, hy vọng từ nay sẽ bớt lo âu chuyện đi lính, không còn phải khóc thương những hy sinh ở chiến trường.

H0à bình đã đến nhưng thị dân Sài Gòn không mang chút dấu chỉ vui mừng. Sài Gòn vẫn tấp nập những dòng xe máy, chen chân kẻ mua, người bán.

Bọn học trò phổ thông chúng tôi thích đến trước bưu điện ăn vài cái bò biá với nước chấm đậm đà cay. Rồi xuống phố Tự Do, qua chợ hoa Nguyễn Huệ thấy mùa xuân đang về bên những cành mai cành đào, những chậu quất vàng. Qua đường Lê Lợi uống cốc nước mía, nhìn ngắm những thiệp Tết màu mè, những câu đối đỏ với chữ kim nhũ bày la liệt hay ghé Khai Trí đọc cọp ít trang sách. Lúc này mặt tiền chợ Bến Thành vang vang lời quảng cáo hàng Tết, nào là kem Hynos của anh Bẩy Chà Dà, của nai khô cá thiều, rượu dâu Đà Lạt.

Hoà bình đã đến. Chúng tôi kéo nhau vào một quán bên đường Nguyễn Du, vẫn đông sinh viên học sinh như mọi ngày, nâng ly cà-phê sữa nóng chúc mừng nhau:

Khi đất nước tôi
không còn giết nhau
trẻ con đi hát
đồng dao ngoài đường…
[2]

Từ nay dân ta sẽ hoà giải, sẽ sống trong niềm vui hoà hợp dân tộc.

Nhưng sao Sài Gòn không có những liên hoan đón mừng hoà bình sau bao năm quê hương ròng rã chiến tranh? Chúng tôi còn quá non trẻ để hiểu được ý nghĩa đích thực của hai chữ “hoà bình” hay sao?

Cuộc đời cứ tiếp tục những vòng xoay. Chúng tôi thi đậu tú tài. Lên đại học. Xuống đường tiếp tục kêu gọi hoà bình.

Hoà bình đến mà trên đường phố vẫn còn những chiếc GMC chở quan tài phủ cờ vàng, trong đó có bạn học xưa, có hàng xóm láng giềng, có người thân gần xa.

*

Tôi không sinh ra trong chiến tranh và chỉ lớn lên trong tiếng bom đạn từ xa xa vọng về thành phố. Nhưng có một lần chiến tranh đã đến thật gần bên tôi. Tết Mậu Thân.

Năm đó bố mẹ tôi đã chuẩn bị cho các con khăn gói để tản cư.

Năm đó tôi thấy những trái bom rớt ra từ cánh máy bay. Sau những tiếng nổ lớn thì mảnh bom rơi ngay trước mặt. Tinh nghịch tôi vồ lấy miểng bom, nóng bỏng tay nên vội vàng vất lại xuống đất.

Năm đó tôi thấy xác lính và thường dân nằm chết ngổn ngang bên lề đường.

Năm đó trường cấp 2 của tôi được dùng làm trạm tiếp cư. Bàn ghế học trò giờ là giường, những thùng phuy được biến thành nồi nấu cơm, cửa sổ làm củi đun bếp. Chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống mà còn cuốn theo cả mạch sống của con người.

Năm đó tôi thấy súng đạn phơi bày nơi sân trường: B-40, B-41, AK-47, M-16, M-79.

*

Tháng 4.1975

Chiến tranh càng khốc liệt và dường như ngày một về gần thành phố hơn. Một Mậu Thân nữa chăng?

Giữa những hàng cây xanh, Sài Gòn dọc ngang những biểu ngữ còn thơm mùi vải, mùi nước sơn.

“Toàn dân lên án cộng sản phá hoại hoà bình.”

“Hiệp định Ba Lê phải được tôn trọng.”

“Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến.”

Tôi vẫn mơ hoà bình sẽ tới, từ những ngày tôi biết sợ hãi chiến tranh.

“Ngưng bắn”, “hoà bình”. Thị dân đã nghe quen tai, quá quen tai và thực tế là “chiến tranh” còn triền miên kéo dài. Bây giờ tôi hiểu được tại sao khi hoà bình đến, trên giấy tờ, người dân Sài Gòn đã chẳng vui mừng chào đón.

Tôi chạy trốn chiến tranh, rời xa thành phố, khi bom đạn như sắp ùa vào.

30.04.1975

Ðất nước hoà bình, thống nhất. Dân ta sẽ thôi bắn giết, hoà giải với nhau, sống trong hoà hợp dân tộc.

Nhưng sao tôi lại khóc giữa đại dương bao la! Và sao tôi lại bỏ hoà bình mà ra đi!

*

Tháng 3.1980

Bố tôi gửi điện: “Emtrai di thamanh. Roi đi bodoi. Anh gui it thuoc de chuabenh onha.” Tay tôi run rẩy. Ðọc đi đọc lại.

Ðời tôi chưa một lần cầm súng bắn giết. Nay đất nước hoà bình mà em tôi lại phải “đi thăm anh” nghĩa là tìm đường vượt biển, không thành, rồi đi bộ đội. Bố mẹ cần tôi gửi tiền về để “chuabenh onha” tức là lo lót cho em tôi khỏi phải qua chiến trường Campuchia, ở đó coi chừng mất mạng.

Nơi xứ người có hoà bình nhưng tôi không được bình yên trong tâm hồn. Thanh niên Việt, nay có em tôi, lại phải tiếp tục đối đầu với chiến tranh. Mẹ tôi rất lo.

*

Tháng 8.1995

Tôi về thăm quê hương cũ. Gặp lại đứa em trai, giờ đã phục viên. Nỗi ám ảnh của chiến tranh vụt mất trong tôi.

Về lại nhà xưa. Hai cánh cổng mang dấu hiệu PEACE tôi vẽ mẫu năm 1973 vẫn bị che lại từ phía ngoài đường, nay chỉ còn một. Nhìn từ trong nhà, cạnh màu tường vôi vàng úa, cánh cổng rỉ xét. Nhưng tôi vẫn nhận ra tác phẩm của mình.

Ðó là ước mơ hoà bình của tôi thuở đó.

[ảnh trong bài của tác giả]

[1] Bình ca 1 của Phạm Duy
[2] Tôi sẽ đi thăm của Trịnh Công Sơn

© 2005 Buivanphu

___

Nguồn: talawas.org 24.02.2005

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, tản văn and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s