Những người của giải Nobel tôi đã được gặp

Bùi Văn Phú

Emilio Segrè (trái), Glenn Seaborg, Seán MacBride, Czeslaw Milosz

Emilio Segrè (trái), Glenn Seaborg, Seán MacBride, Czeslaw Milosz

Ngày ở quê nhà, thích sách nên tôi có đọc sáng tác của những nhà thơ, nhà văn đã được giải Nobel. Gần gũi với tôi nhất có Rabindranath Tagore, Aleksandr Solzhenitsyn, Boris Pasternak, có Pearl Buck, Yasunari Kawabata qua những tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt ở Sài Gòn trước năm 1975 như Tặng vật, Vòng đầu, Một ngày trong đời Ivan Denisovich, Quần đảo ngục tù, Bác sĩ Zhivago – một phim và một ca khúc quá hay – Đất lành, Ngàn cánh hạc. Tôi có tìm đọc Albert Camus và Jean-Paul Sartre với triết lí hiện sinh nhưng chẳng hiểu nên văn chương của họ không hấp dẫn với tôi. Tôi cũng biết đến giải Nobel Hoà bình với những tên tuổi như Martin Luther King Jr., Willy Brandt hay Henry Kissinger và Lê Đức Thọ.

Nhưng chưa bao giờ tôi mơ ước sẽ có một ngày được gặp những nhân vật đã được giải thưởng Nobel cao quý cho đến khi tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley vào cuối thập niên 1970.

*

Những khôi nguyên giải Nobel tôi đã có dịp được gặp, nghe nói chuyện hay được hướng dẫn học hỏi là hai nhà khoa học Emilio Segrè, Glenn Seaborg, nhà thơ Mỹ gốc Ba Lan Czeslaw Milosz và Seán MacBride, người Ái Nhĩ Lan. Ở nước ngoài, tôi cũng biết được nhà thương thuyết Hiệp định Ba Lê 1973 là Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải. Nhìn lại biến cố tháng Tư năm 1975 thì tôi hiểu tại sao Bộ Chính trị miền Bắc Việt Nam đã không cho Lê Đức Thọ nhận giải đó.

Khi tôi vào Đại học Berkeley, trường này đã có 12 giải Nobel, tất cả về vật lí và hoá học. Những giáo sư được vinh danh là những người làm công tác nghiên cứu hơn là giảng dạy, nếu có lên lớp thì thường cho sinh viên các ban cao học và tiến sĩ. Nhưng nhà trường có chính sách là dù giáo sư nghiên cứu cũng phải phụ trách giảng dạy cho sinh viên ban cử nhân một năm một lớp.

Năm thứ tư đại học, tôi học lớp “History of Physics” (Lịch sử vật lí học) với giáo sư Emilio G. Segrè là người đã tìm ra phản dương tử (antiproton) trong nhân nguyên tử. Lớp chỉ học lí thuyết về những công thức, hệ số vật lí đã được tìm ra như thế nào chứ không có phần thực hành bằng thí nghiệm. Ai đã có dịp gặp giáo sư Segrè thì biết thầy nói tiếng Anh với một giọng rất nặng. Nếu từng được nghe cách phát âm của ngoại trưởng Henry Kissinger thì nghe giọng của thầy Segrè còn khó hiểu hơn nữa. Lớp học lại không có sách giáo khoa. Trong số hơn 30 sinh viên, chỉ có tôi và một sinh viên Nam Hàn là người ngoại quốc với Anh ngữ là ngôn ngữ thứ hai mà nghe thầy giảng còn lõm bõm thì sinh viên chính gốc Mỹ nhiều bạn ngơ ngơ ngác ngác không hiểu rõ thầy nói gì. Sau những giờ học, chúng tôi tổ chức học nhóm, gặp nhau để so sánh những điều ghi chép được. Thầy biết sinh viên có khó khăn nên thường ở lại sau lớp để giảng thêm và chúng tôi biết được thầy là người gốc I-ta-li-a. Sau đó, thầy cho đánh máy bài giảng cho sinh viên học.

Một vài bạn bên khoa hóa có lớp với giáo sư Glenn Seaborg cho biết giờ học của thầy cũng rất buồn ngủ. Nhưng trong giảng đường hay ngoài sân trường, các giáo sư Seaborg, Segrè, Milosz là những người thầy bình dân, hòa nhịp với đời sống đại học, tận tình hướng dẫn sinh viên. Ngày sinh viên Việt Nam cùng với Amnesty International và Humanitas tổ chức hội thảo về nhân quyền và làn sóng tị nạn, khôi nguyên giải Nobel Văn chương 1980 là nhà thơ Milosz và khôi nguyên giải Nobel Hoà Bình 1974 là Seán MacBride đã tham dự đọc thơ, diễn thuyết.

Những năm của thập niên 1990, tôi có nhiều dịp gặp giáo sư Seaborg đến nói chuyện với học sinh cấp hai để khuyến khích các em quan tâm đến khoa học. Nhớ lại lời bạn xưa tôi thấy đúng lắm, vì nghe thầy nói chuyện thật khó hấp dẫn cho các em tuổi vị thành niên. Nhưng chuyện một nhà khoa học tìm ra đơn chất số 106 trong bảng phân loại tuần hoàn, Seaborgium, đến nói chuyện với những học sinh cấp hai cho thấy giữa thầy trò ở Mỹ không có hố ngăn của những bằng cấp cao hay những giải thưởng cao quý.

Giải Nobel 2006 đã được công bố. Năm nay, người Mỹ chiếm hết các giải về khoa học và giải kinh tế. Vùng vịnh San Francisco có hai đại học nổi tiếng là U.C. Berkeley và Stanford, một trường công và một trường tư, lại vinh dự được nhận thêm giải. Stanford có giáo sư Andrew Fire đoạt giải y khoa cùng với một nhà khoa học Mỹ khác là Craig Mello của Đại học Massachusetts. Trường Stanford năm nay còn có giáo sư Roger Kornberg với giải hoá học. Năm 1949, cha của Roger là Arthur Kornberg cũng đã đem về cho Stanford giải Nobel Y học.

Đại học Berkeley năm nay có nhà vật lí không gian George Smoot của trung tâm nghiên cứu quốc gia Lawrence Berkeley National Laboratory được giải vật lí, cùng với nhà khoa học không gian John C. Mather của NASA Goddard Flight Center ở bang Maryland. Giải kinh tế được trao cho giáo sư Edmund S. Phelps của Đại học Columbia, bang New York. Còn lại, giải văn chương về tay tiểu thuyết gia Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk và giải hoà bình được trao cho nhà kinh tế Muhammad Yunus và Ngân hàng Grameen ở Bangladesh do ông sáng lập từ 30 năm qua với mục đích giảm nghèo tại quốc gia có 130 triệu dân và nghèo nhất thế giới này.

Như thế Đại học Stanford nay có 31 giải Nobel và U.C. Berkeley có 20.

*

Trong thế giới tiến bộ ngày nay, khoa học được ứng dụng trong đời sống hằng ngày, nhưng tôi không cảm thấy thân thiết lắm với những công trình nghiên cứu, những phát minh khoa học.

Còn văn chương, vì không được đọc bằng tiếng mẹ đẻ nên từ ba chục năm nay tôi không chú ý nhiều đến giải Nobel Văn chương. Anh ngữ không chuyển đạt được cái hay của thi văn đến với tôi. Chỉ đọc bằng tiếng Việt, ngôn ngữ tôi hiểu sâu xa nhất, tôi mới cảm nhận được, như tôi đã yêu thích Tagore qua bản dịch của Đỗ Khánh Hoan ngày xưa, hay những tác phẩm của Buck, Pasternak, Kawabata, Solzhenitsyn của nhiều người dịch khác.

Tôi thường chú ý đến giải Nobel Hoà bình hơn. Trong một thế giới luôn có chiến tranh, hòa bình đã trở thành ước vọng lớn của con người. Những cá nhân, tổ chức nhận giải hòa bình trong hơn một thế kỷ qua, nhiều người đã thực sự tranh đấu ôn hòa bất kể nguy hiểm vì bạo lực cho bản thân. Tôi luôn có lòng khâm phục những nhân vật của lịch sử đương đại như Kim Dae-Jung, Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi, Lech Walesa, Andrei Sakharov, Mikhail Gorbachev, Mẹ Teresa, Đức Dalai Lama, Giám mục Desmond Tutu và những tổ chức như Ân xá Quốc tế, Cao ủy Tị nạn, Hội Bác sĩ không Biên giới.

Nhưng không hẳn một quốc gia có nhiều giải Nobel Hoà bình thì đất nước đó sẽ an bình. Nhìn vào nước Mỹ với khá nhiều nhân vật được giải này từ một thế kỷ qua, từ Theodore Roosevelt, Elihu Root cho đến George Marshall, Linus Pauling, Martin Luther King Jr., Elie Wiesel, Jimmy Carter nhưng Hoa Kỳ thường trực ở trong tình trạng chiến tranh, từ hai cuộc thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, El Salvador, Nicaragua, Somalia, Kuwait, Iraq, Afghanistan. Hay Israel có Menachem Begin (1978), Yitzhak Rabin và Shimon Peres (1994) đoạt giải hoà bình mà đất nước này vẫn mãi không yên.

Thời chiến tranh ở Việt Nam, thầy Thích Nhất Hạnh đã có vinh dự được nhà tranh đấu dân quyền Mỹ Martin Luther King Jr., khôi nguyên Nobel Hoà bình 1964, đề nghị trao giải Nobel Hoà bình. Chiến tranh chấm dứt nhưng dân Việt vẫn chưa có bình an, còn bị đàn áp, giam cầm như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, thầy Thích Quảng Độ, những người đã lên tiếng cho quyền làm người và đã nhiều năm được đề nghị cho giải này vì tinh thần tranh đấu ôn hòa cho dân tộc.

Dù không được giải, họ vẫn đáng được ca ngợi là những con người của hoà bình và cho hoà bình. Tôi đã có nhiều dịp gặp thầy Nhất Hạnh. Hy vọng một ngày không xa tôi sẽ có cơ hội được gặp bác sĩ Nguyễn Đan Quế, gặp thầy Quảng Độ.

© 2006 Buivanphu

___

[Bài đã đăng trên: Việt Tribune (San Jose – California) 13.10.2006 và talawas.org 1.11.2006]

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in đời sống and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s