Vietnam, Now: nhìn về lịch sử, vào hiện tại

Bùi Văn Phú

Vietnam, Now: A Reporter Returns. David Lamb. 274 tr., Nxb Public Affairs. New York 2002.

*

David Lamb là ký giả Mỹ duy nhất đã có mặt tại Việt Nam trong thời chiến tranh và nay trở lại sống với đất nước này thời hòa bình. Thời chiến ông làm phóng viên cho hãng tin UPI từ năm 1968 đến 1970. Gần ba mươi năm sau ông trở lại Việt Nam, sống ở Hà Nội, làm phóng viên cho nhật báo Los Angeles Times từ năm 1997 đến 2001.

Vietnam, Now: A Reporter Returns là cuốn sách nhìn về lịch sử, nhìn vào hiện tại, cùng dự phóng tương lai một nước Việt Nam mới.

Vào sách ông tả cảnh Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời chống Mỹ cứu nước, giờ đây phát triển theo nhịp đổi mới kinh tế từ 15 năm qua. Hà Nội của những ngày chiến tranh, những bầu trời xám không còn nữa.

Nhưng cái tên Hà Nội khi nghe nhắc đến còn chứa đựng ít nhiều ray rứt trong tiềm thức người Mỹ. Nhiều người không tin ngày nay có người Mỹ như David Lamb sống và làm việc ở đó. Hà Nội có thi hài Hồ Chí Minh, theo tác giả trông như tượng sáp nằm trong lăng, nơi mà Tổng thống Bill Clinton không muốn viếng, nơi Ðại sứ Mỹ Peter Peterson đến mà chỉ nghiêng mình chứ không cúi đầu bái phục.

Hà Nội một thời đạn bom đã qua đi, chỉ còn lại chút ít tàn tích chiến tranh. Hà Nội qua cái nhìn của David Lamb không có những dãy phố bị bom Mỹ tàn phá bình địa như những cáo buộc của giới chống chiến tranh đầu thập niên 70. Dấu tích chiến tranh còn lại giờ đây là một hố bom, một xác B-52 ở khu Khâm Thiên, là nhà giam Hỏa Lò, tức Hanoi Hilton, nơi tù binh Mỹ từng bị giam giữ, ngược đãi, nay là một bảo tàng viện, cạnh trung tâm thương mại cao chót vót, sang trọng.

Trong nhà giam có tấm bảng ghi rằng phi công Mỹ bị bắt không bị trả thù, mà được đối xử tử tế, được cho ăn mặc, chỗ ở đầy đủ. David Lamb nói thẳng là điều này không đúng.

Sự thực về Hanoi Hilton có Thượng nghị sĩ John McCain và đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam là nhân chứng. Nhưng cả hai đã đặt quá khứ đau thương qua một bên để hướng về tương lai quan hệ tốt đẹp cho hai quốc gia từng là thù nghịch của nhau.

Xuyên suốt qua nhiều chương sách, dư âm của cuộc chiến chống Mỹ không còn trong nếp suy nghĩ của đại đa số dân Việt bây giờ. Tinh thần hòa giải với người Mỹ được ghi lại tại nhiều nơi. Cuộc hội ngộ giữa Thượng nghị sĩ John McCain và Mai Văn Ơn, người đã bơi ra giữa hồ Trúc Bạch cứu phi công McCain bị bắn rớt. Đại sứ Peterson đến thăm Nguyễn Văn Chộp, người du kích xã An Đoài, đã bắt ông khi oanh tạc cơ của Peterson trúng đạn phòng không trên vòm trời Bắc Việt. Những nhóm cựu chiến binh Mỹ trở lại Việt Nam, tìm đến bãi chiến trường xưa, mặt đối mặt với bộ đội từng tham chiến, giờ đây trong một không khí cảm thông, hòa giải.

Sự hòa giải giữa những chiến binh Mỹ và bộ đội cộng sản được đề cao. Nhưng tác giả cũng không quên nhắc nhở giới lãnh đạo Hà Nội về sự hòa giải chưa có được giữa người Việt với nhau. David Lamb đã lần mò tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, chốn yên nghỉ ngàn thu của nhiều chục ngàn người lính Việt Nam Cộng hòa, để thấy nơi đây hoang phế đến thảm thương so với nghĩa trang Trường Sơn, nơi chôn cất bộ đội nằm gần sông Bến Hải.

Tác giả nêu lên sự kiện này với Phó chủ nhiệm Ban Tư tưởng Thành phố Hồ Chí Minh và được trả lời rằng: những người lính Sài Gòn là nạn nhân chiến tranh. Họ bị ép buộc cầm súng cũng giống như lính Mỹ bị ép buộc đi chiến đấu tại Việt Nam. Chính sách của nhà nước là đối xử đồng đều với tất cả nạn nhân của cuộc chiến, nhưng ưu tiên hơn dành cho những người đã hy sinh vì tổ quốc.

Số phận của cô nhi, quả phụ, thương phế binh Việt Nam Cộng hòa cũng cùng chung hoàn cảnh đau thương và được tác giả nhắc đến nhiều lần khi so sánh những phúc lợi mà nhà nước dành cho cựu cán binh, bộ đội miền Bắc.

Tác giả quan niệm trong cuộc chiến những người lính Việt Nam Cộng hòa cũng chiếu đấu và hy sinh cho tổ quốc. Họ chẳng phải ngụy quân. Còn Hà Nội nói họ giải phóng miền Nam thì không biết họ đã giải phóng người dân miền Nam khỏi cái gì? Vì nhìn lại Việt Nam một thập niên sau chiến tranh, tác giả gọi đó là những năm đen tối – dark years – như nhiều người Việt gọi thế.

Sài Gòn giờ đây là một thành phố bừng lên những sinh hoạt. Những năm đen tối với học tập cải tạo, đánh tư sản mại bản, ruồng bắt văn nghệ sĩ không còn nữa. Sài Gòn là nơi dễ thở, dễ làm ăn hơn vì người dân ở đó đã quen sinh hoạt tự do kinh tế. Sài Gòn thoáng hơn, ít thấy hình tượng Hồ Chí Minh hơn Hà Nội.

Việt Nam giờ đã đổi mới, tiến bộ nhiều là trong khu vực kinh tế. Nhưng đổi mới cũng có mặt tích cực lẫn tiêu cực. Chuyện một Việt kiều về hùn vốn làm ăn với người trong nước rồi bị lấy mất cả công ty không phải là chuyện ít xảy ra. Tác giả cho rằng vì văn hóa Đông Tây khác biệt, người Việt dựa vào chữ tín chứ không dựa vào những văn bản, khế ước thành văn rõ ràng.

Điểm này cho thấy tác giả thiếu tinh tế về đời sống xã hội tại Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua. Một Việt Nam nghèo đói nhiều năm, đạo đức suy đồi, tham nhũng lan tràn vì thế dù có nhiều hợp đồng thành văn rõ ràng mà còn có những nhà đầu tư bị lừa, phải bỏ chạy thì những lời hứa miệng làm gì có giá trị.

Chính tác giả cũng nhìn nhận những người cầm quyền hiện nay, là đảng viên cộng sản, sợ sự minh bạch, và vẫn sống trong não trạng bí mật của thời chiến tranh, vì thế lúc đầu nhiều công ty hồ hởi vào Việt Nam nhưng giờ đang bỏ đi là vì sự thiếu quyết tâm, thiếu minh bạch và nạn tham nhũng, quan liêu hành chính trong hệ thống chính quyền.

Phát triển kinh tế giúp Việt Nam đạt những tiến bộ hơn trong những năm qua. Thời đại xe đạp, xếp hàng cả ngày mua gạo ở Việt Nam không còn nữa. Nhưng về mặt chính trị, văn hóa, báo chí thì còn nhiều giới hạn. Người dân đi bầu chọn các ứng cử viên do đảng chỉ định tranh cử. Trong kỳ bầu cử ủy ban nhân dân địa phương, ở làng Ngũ Xá, Hà Nội, nơi tác giả sinh sống, 1537 trong số 1542 cử tri, coi như 100%, đã đi bỏ phiếu trong hai giờ đầu tiên của ngày bầu cử. Có người đi bầu thay cho gia đình, có người đi bầu đến hơn chục lần.

Sinh hoạt báo chí do Ban Văn hóa tư tưởng chỉ đạo, dù Việt Nam giờ có khoảng 400 tờ báo các loại được phép ấn hành. Mỗi tuần ban này họp để quyết định những loại thông tin nào được loan tải.

Nữ tài tử phản chiến Jane Fonda ít năm trước đây lên truyền hình Mỹ xin lỗi cựu chiến binh Hoa Kỳ về những việc làm của cô tại Hà Nội trong thời chiến. Nhưng Hanoi Hannah (Trinh Thi Ngo), người nữ xướng ngôn miền bắc thường kêu gọi binh lính Mỹ đào ngũ, chống lại chiến tranh, đến giờ cũng không được biết về sự hối hận của cô đào Fonda.

Theo ghi nhận của David Lamb, nhà báo Việt Nam hành nghề vì kiếm sống hơn là vì chức năng. Họ đi tham dự họp báo nhiều nơi trong ngày, sau mỗi cuộc họp báo đều nhận phong bì có tiền để viết bài tốt về buổi họp báo.

Về mặt chính trị thì dù Việt Nam có hiến pháp, luật pháp nhưng quyền cai trị nằm trong tay đảng, thể hiện qua Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương Đảng là những tổ chức không phải do dân bầu lên. Vì thế ở Việt Nam đảng và nhà nước là một.

Tác giả nhận định rằng tiến trình đổi mới đã đưa Việt Nam vào cuộc đua ngựa với những nước láng giềng. Người nài ngựa cho Việt Nam chính là Đảng Cộng sản, nhưng thay vì thúc cho ngựa chạy nhanh, họ lại giật ngược dây cương cho ngựa chậm lại. Như vậy Đảng đang cản lại bước tiến và làm ngăn trở những mơ ước về một đời sống cao và văn minh của giới trẻ Việt Nam mà ngày nay họ không còn coi Đảng là quan trọng và đang có những đòi hỏi cấp bách.

Phản kháng của giới trẻ thể hiện qua những cuộc đua xe gắn máy, qua lần tấn công cảnh sát rồi tiến vào khu vực Nhà hát Lớn Hà Nội để được xem những chương trình ca nhạc giải trí chỉ dành cho những giới có quyền năng, chức vị.

Tác giả trích dẫn nhiều người Việt đưa quan điểm là phải từ bỏ chủ thuyết cộng sản thì Việt Nam mới tiến bộ được. Một khi đã từ bỏ cộng sản thì những thành phần chống Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cũng như ngoài chính trường sẽ ôm choàng lấy Việt Nam.

Người ta giờ trông chờ giới lãnh đạo già nua, giáo điều qua đi. Nhưng tác giả đặt nghi vấn rằng khi ngọn đuốc được trao lại cho thành phần trẻ, liệu họ có đủ can đảm để làm một cuộc cải cách rộng lớn không? Hay sau nhiều năm sống dưới sự áp bức, mọi người chỉ muốn sống hài hòa, an phận. Hoặc có phản kháng thì lại bỏ nước ra đi như đại tá Bùi Tín, như cựu bộ trưởng tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Như hàng triệu người Việt hải ngoại trong hai thập niên trước và hàng ngàn sinh viên ngày nay mà nhiều người là con cái cán bộ, dảng viên.

Như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng kêu gọi anh em thôi chém giết nhau rồi cũng phải đi lao động, đi kinh tế mới và sau này không còn dám nói lên nỗi đau của đất nước mà chỉ viết nhạc tình cho đến khi nhắm mắt lìa trần. Hay như Dương Cư, cựu thẩm phán Việt Nam Cộng hòa, sau nhiều năm cải tạo giờ đã mất tính can đảm, không còn dám chỉ trích nhà nước mà chỉ nói đến hòa giải. Như nhà văn Bảo Ninh, tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, không còn sáng tác được nữa mà phải ra sức buôn bán kiếm sống.

Sau những năm sống với người Việt đương thời, David Lamb nhận định rằng chính lịch sử Việt Nam đã làm nên đất nước của họ chứ không phải những ý thức hệ, dù bắt nguồn từ đâu. Vietnam, Now là tập ký sự ghi nhận những quan sát, nhận định bén nhạy nhưng cũng còn nhiều nghịch lý về một Việt Nam đương đại.

Về hình thức, sách có nhiều chỗ tiếng Việt ghi không đúng, từ những địa danh cho đến tên người. Một bài hát của Trịnh Công Sơn – Những ai còn là Việt Nam – tác giả lấy nguyên văn từ cuốn Understanding Vietnam của Neil L. Jamieson (University of California Press, 1993) nhưng không thấy ghi xuất xứ.

© Buivanphu

___

Nguồn: talawas.org 27.04.2004

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in chính trị Việt, đọc sách and tagged . Bookmark the permalink.

2 Responses to Vietnam, Now: nhìn về lịch sử, vào hiện tại

  1. thảo says:

    Anh ơi, anh có thể chỉ cho em chỗ mua cuốn này ở Việt Nam được không ạ? Em tìm hoài mà chưa thấy.

    • buivanphu says:

      Tôi không rõ sách này, nguyên bản tiếng Anh, có bán ở Việt Nam hay không.

      Bạn đọc nào ở trong nước nếu biết, xin chỉ dùm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s