Xem “Gió mùa”, “Trăng nơi đáy giếng”, thoáng gặp Tiêu Dao Bảo Cự

Bùi Văn Phú

Lê Lợi tìm đường cứu nước

Lê Lợi tìm đường cứu nước

Năm nay đánh dấu lần thứ 30 sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley làm văn nghệ, kể từ lần đầu tiên vào tháng 4.1980.

Văn nghệ 2009 chủ đề “Moonsoon” – Gió mùa – đã diễn ra tối ngày 19.4 tại thính đường quen thuộc Zellerbach.

Qua các tiết mục, phân cảnh người xem thấy thấp thoáng Thần Kim Qui trao gươm cho Lê Lợi. Thấy thần Phượng Hoàng xuất hiện, thấy phảng phất truyền thuyết Âu Cơ, Lạc Long Quân sinh trăm trứng, nở ra trăm con. Chương trình có múa thể hiện văn hoá dân tộc ít người, múa lân, múa rồng, múa đèn, múa nón. Có ông Thiện, ông Ác thấp thoáng giữa chốn dân gian.

Chuyện kể bằng Anh ngữ. Tất cả là những truyền thuyết đan xen nhưng khó cho người xem bắt mạch được điều gì đang diễn ra trên sân khấu.

Chưa bao giờ đi xem văn nghệ sinh viên Berkeley mà tôi không hiểu được nội dung ý chính. Nhưng tối hôm đó tôi đã lạc đường, lạc ý. Thấy Kim Qui trao kiếm cho Lê Lợi tìm đường cứu nước, rồi cảnh theo sau với thiếu nữ mặc áo đỏ đuôi công, tôi liên tưởng đến Trọng Thuỷ, Mỵ Châu và chiếc nỏ thần. Nhưng không, đó là thần Phượng Hoàng. Vì lồng trong nhiều truyền thuyết dân gian, lại không lời dẫn giải lúc chuyển cảnh nên tôi không nắm được ý toàn câu chuyện.

Mặt trời đỏ đưa tới những buồn đau, mất mát, chia lià

Mặt trời đỏ đưa tới những buồn đau, mất mát, chia lià

Một hôm sau buổi văn nghệ, gặp cô Christine Lê là một trong những người tổ chức, tôi đưa nhận xét là mình đã rất mơ hồ không hiểu được nội dung muốn nói gì dù chăm chú theo dõi từ đầu đến cuối. Cô nói năm nay sinh viên viết và thực hiện chương trình theo cách mới, khác với những năm trước. Nội dung hoàn toàn trừu tượng – “totally abstract”.

Nhiều cựu sinh viên khác, như tôi, cũng đã không hiểu nên mấy hôm sau trên mạng trao đổi thông tin có chuyển đi một email của John Việt, người viết kịch bản, với những dẫn giải.

Email của John Việt giải thích nhiều cảnh trong chương trình là hệ lụy của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, như “chiến thắng” [năm 1975] là khởi đầu của “dark spirit” – tinh thần đen tối, đưa tới những buồn đau, mất mát, chia lià, kéo theo thảm kịch đau thương của người Việt phải ra đi sống ở nước ngoài…

Không biết trong số hơn 1200 khán giả hôm đó có mấy người bắt được ý này. Riêng tôi, dù chú tâm nhưng không khi nào hình ảnh cuộc chiến tranh Việt Nam đã loé lên trong đầu. Tôi không chắc lắm mình hiểu được những ý tưởng John Việt muốn lồng vào trong đó, như lời dẫn giải của John với các bạn tham gia chương trình.

Năm ngoái John Việt cũng là người dựng sân khấu cho câu chuyện về những người phụ nữ Việt trong nửa thế kỉ qua: “Cánh hồng trong gió” đơn giản, hiện thực. “Gió mùa” năm nay trừu tượng, mơ hồ, có lẽ như sử xanh nhiều nghìn năm trước, chứ không phải phản ánh lịch sử cận đại.

*

Tối 20.4 có chiếu phim “Trăng nơi đáy giếng” của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dưới sự bảo trợ của Trung tâm Nghiên cứu Đông nam Á. Phim có bối cảnh ở Huế và theo lời đạo diễn phim chưa được chiếu cho công chúng ở Việt Nam vì trong nước bây giờ thích chiếu phim Mỹ nhiều hơn.

Dự định lúc đầu sẽ có đạo diễn và nữ diễn viên chính Hồng Ánh giao lưu với khán giả. Giờ chót chỉ có mình đạo diễn.

Phim dựa trên tác phẩm cùng tựa của nhà văn nữ Trần Thùy Mai là một câu chuyện thực ngoài đời của một cặp vợ chồng Huế. Phương là một hiệu trưởng đức độ, tài năng của một trường cấp 3. Còn Hạnh là giáo viên, mẫu mực tại trường, đảm đang tại nhà. Hạnh không thể sinh con để gia đình Phương có người nối dõi tông đường. Theo nếp suy nghĩ cổ hủ của người Việt, đó là một điều bất hạnh cho gia đình chồng.

Còn đời sống của gia đình Phương và Hạnh đầy những cảnh chồng chuá vợ tôi. Căn nhà vườn, đặc tính của Huế, nơi Phương và Hạnh sống có đến hơn chục cửa sổ mà tối nào người vợ cũng phải lo cài then, đóng cửa là việc làm cuối cùng trong một ngày trước khi vào mùng ngả lưng bên cạnh một ông chồng tự coi mình như vua. Trong phim nhiều lần ghi lại cảnh Hạnh đóng cửa, như để diễn tả tâm trạng tôi tớ, sống tù hãm, cô đơn trong bóng tối hủ tục của văn hoá Việt.

Hạnh cho chồng được có vợ bé để sinh con trai cho mẹ chồng. Chuyện này làm Phương mang tiếng thiếu đạo đức, bị kẻ ghen ghét gièm pha có thể mất chức hiệu trưởng. Hạnh lại tìm cách bảo vệ chồng, đồng ý li dị – chỉ trên trên giấy tờ – và còn lo cho chồng về sống với cô vợ bé.

Nhưng khi về sống với người vợ bé thì Phương không còn được hầu hạ như Hạnh đã làm cho chồng. Cơm, canh không còn như ý. Áo quần phải tự giặt lấy. Hạnh thấy cảnh sống mới của chồng mà buồn nên tìm đến lên đồng để giải quyết những cô đơn, uẩn ức tâm lí.

Ý chính của phim đưa ra nếp sống cổ hủ và sinh hoạt lên đồng như một cách trị liệu tâm lí của người Việt để vượt ra khỏi những hủ tục.

Hay đây là những điều mê tín, dị đoan?

 Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, bên phải, giao lưu với khán giả

Đèn sáng lên, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn có phần giao lưu với khán giả. Thày Trần Hạnh dịch sang Anh ngữ.

Đa số phát biểu cho đây là một phim đẹp. Phim về Huế thì không thể thiếu cầu Tràng Tiền, Đại Nội, sông Hương, bến đò; phải có chút nhạc Trịnh: “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”, chút nhạc cách mạng mừng chiến thắng 1975: “Việt Nam, Hồ Chí Minh”.

Một người đàn ông Việt, tự giới thiệu đã sống ở Pháp trước năm 1975 và ở Mỹ cũng hơn 20 năm nói ông tin vào những niềm tin dân gian của 5 nghìn năm lịch sử Việt Nam và cho rằng ngay cả đạo Chuá, đạo Phật cũng toàn là những mê tín, dị đoan. Lời phát biểu của ông làm mọi người phì cười.

Đạo diễn nói lên đồng là một niềm tin dân gian của người Việt đã có từ cả ngàn năm và ngày nay rất nhiều người tin vào chuyện này, có đến 80% người dân Huế. Đạo diễn gọi là đạo, dù chưa phải là một tôn giáo, nhưng đã giúp con người giải quyết được nhiều bế tắc.

Trong khi đó nhà văn Trần Kiêm Đoàn không đồng ý với con số đạo diễn đưa ra. Theo ông những người tin vào sinh hoạt tâm linh này chỉ chừng vài phần trăm. Nhà văn cũng là người gốc Huế, bạn thân của Trần Thùy Mai, ngỏ lời cám ơn đạo diễn đã tinh tế đưa vào phim nhiều nét đẹp của Huế. Nhưng ông cho rằng thân phận của Hạnh là trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó chứ không phải là tiêu biểu cho người phụ nữ Huế.

Một nữ khán giả Việt, gốc miền nam, phát biểu phim này không phản ánh trung thực sức chịu đựng của người phụ nữ Việt. Trong khi phim lại được đem chiếu ở nước ngoài và có thể làm cho người ngoại quốc hiểu lầm về người Việt Nam. Khi cô Hạnh bị chồng coi như người đầy tớ trong nhà như thế mà lại tìm cách giải quyết căng thẳng tâm lí bằng “lên đồng, lên bóng” thì đó là một việc làm hết sức bệnh hoạn. Ở Mỹ nếu cô đơn, người ta giải quyết những vấn đề tâm lí bằng cách làm những việc gì đó, chứ không tin vào mê tín dị đoan.

Đạo diễn nói khi xã hội càng văn minh, ở Việt Nam cũng như tại nhiều quốc gia khác, con người càng dễ rơi vào cô đơn. Lên đồng là một bác sĩ trị liệu tâm lí hiệu quả mà lại rất rẻ tiền.

Sau giao lưu, tôi có hỏi đạo diễn về chính sách, vì nhà nước đã có lúc coi lên đồng là hoạt động mê tín. Ông cho biết ngày nay việc cấm sinh hoạt này đã giảm đi nhiều.

*

Phim Việt Nam đem qua chiếu ở Hoa Kỳ trong vài năm trở lại đây không hấp dẫn được nhiều khán giả. Đã chỉ có chừng 100 người xem “Trăng nơi đáy giếng”. Năm ngoái phim “Sống trong sợ hãi” của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên chỉ có chừng 50 khán giả.

So với những năm trước nữa, với “Muà ổi”, “Giải hạn”, hay “Tướng về hưu” đã có số khán giả cao hơn, chừng hai hay ba trăm.

*

Sau buổi xem phim “Trăng nơi đáy giếng” tôi nhận được thông tin cho biết nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, mới từ Việt Nam qua tham quan nước Mỹ lần đầu, sẽ có buổi nói chuyện tại trường vào trưa ngày 28.4.

Hôm văn nghệ sinh viên Tiêu Dao Bảo Cự có đi xem, tôi đã gặp, chào mừng anh đến Hoa Kỳ cùng trao đổi ít điều về những gì chúng tôi đọc được của nhau trên mạng talawas. Tôi mong được nghe anh nói chuyện.

Email của Trung tâm Nghiên cứu Đông nam Á cho biết đề tài buổi nói chuyện của Tiêu Dao Bảo Cự là: “Văn học Việt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ tiền chiến sang kháng chiến qua cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Hữu Loan”.

Một đề tài văn học hấp dẫn với tôi vì Hữu Loan có bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và đã được nhiều người miền Nam yêu thích từ trước năm 1975, bài “Áo anh sứt chỉ đường tà”. Ca khúc này được chính quyền cho phổ biến trong nước vài năm gần đây và có một giọng ca mới là Đức Tuấn hát rất hay.

Bài hát phổ từ thơ Hữu Loan cũng đã để lại dấu ấn tại Đại học Berkeley từ 30 năm trước. Trong đêm văn nghệ “Đêm Việt Nam” đầu tiên tại đây, sinh viên Đặng Hoài Điệp cất giọng hát, với tiếng đàn tuyệt vời của sinh viên Trần Đình Bá và đã được khán giả nhiệt liệt tán thưởng.

Qua Tiêu Dao Bảo Cự, thơ Hữu Loan lại sắp được giàn trải trong khuôn viên trường.

Tiêu Dao Bảo Cự được giới thiệu là một nhà văn phản kháng, với phần tiểu sử như sau:

Sinh năm 1945 tại Huế. Từ năm 1967 đến 1975 dạy học ở Buôn Mê Thuột và tham gia hoạt động chống chính quyền miền Nam qua những hoạt động báo chí cũng như bí mật. Gia nhập Đảng Cộng sản năm 1974. Từ 1975 đến 1987 ông làm việc tại cơ quan Thanh niên và Mặt trận Tổ quốc Bảo Lộc. Năm 1988 cùng với Hữu Loan và Bùi Minh Quốc, khi đó là Chủ tịch Hội Văn nghệ sĩ Lâm Đồng, đã thực hiện một chuyến đi xuyên đất nước để vận động trí thức và nghệ sĩ kí tên vào một kiến nghị yêu cầu Đảng Cộng sản Việt Nam thực thi dân chủ và đổi mới thực sự. Ít lâu sau chuyến đi đó ông bị trục xuất khỏi Đảng và bị giam lỏng.

Có điều hơi lạ đối với tôi, một người thường tham dự những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật Việt Nam tại trường, đó là trong thông báo ghi rõ buổi nói chuyện của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự sẽ bằng tiếng Việt và không có người dịch sang tiếng Anh.

Qua nhiều sinh hoạt văn học Việt tại Đại học Berkeley trước đây, người tham dự đều có thể hiểu diễn giả qua lời dịch của Giáo sư Peter Zinoman hay của cô Nguyễn Nguyệt Cầm, như các buổi nói chuyện của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài hay buổi chiếu phim Chuyện của Pao.

Nhưng buổi nói chuyện của Tiêu Dao Bảo Cự lại không có người dịch thì không hiểu sinh viên, dù có đang học Việt ngữ tại trường làm sao có thể hiểu được ý diễn giả, ý thơ Hữu Loan.

Lí do có phải Giáo sư Zinoman và cô Cầm hiện đang làm công tác nghiên cứu tại Việt Nam nên không còn người có khả năng dịch?

Nhưng trước ngày Tiêu Dao Bảo Cự đến Berkeley, có thông báo cho biết buổi nói chuyện đã bị huỷ bỏ. Tôi hỏi một người làm việc tại trung tâm, bà trả lời: “He can not come.” – Ông ta không thể đến được.

Tiếc quá. Tiếc quá.

[ảnh trong bài của tác giả]

© Buivanphu 29.04.2009

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in văn học nghệ thuật, điện ảnh and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s