10 năm tôi đi một vòng trái đất. Bài 1: Ra đi, tôi mang theo được những gì

Bùi Văn Phú

Lịch bỏ túi 1975

Lịch bỏ túi 1975

29.4.1975

Sài Gòn như lên cơn hấp hối. Với lệnh giới nghiêm 24/24, người ở trong nhà không dám ra đường còn ngoài đường vẫn kẻ ngược người xuôi. Vội vàng, tất tưởi chạy.

Tôi tự hỏi họ từ đâu đến và đang chạy đi đâu trong cái thành phố mà chiến tranh dường như cũng sắp tràn vào.

Nhà tôi gần phi trường. Từ buổi chiều hôm qua, ngay sau khi Tướng Dương Văn Minh nhận chức tổng thống thì bom đạn đã nổ. Trên bầu trời nhiều trực thăng bay lượn, có khi xà xuống thấp như bốc người hay muốn quan sát chuyện gì. Đêm qua nhiều tiếng nổ lớn nghe rất gần, như tiếng hoả tiễn 122 li rót vào thành phố những năm sau Tổng công kích Tết Mậu Thân. Sáng sớm hôm nay tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, thày dạy tôi môn Cổ luật ở trường Luật, lên đài phát thanh yêu cầu tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Thế là Hoa Kỳ sẽ bỏ Nam Việt Nam? Bao nhiêu tiền bạc đổ vào, mấy chục nghìn lính Mỹ đã hy sinh trên đất nước này. Để được gì mà bây giờ bị đuổi đi?

Tôi đang ở nhà ông bác, cách nhà tôi non cây số, nơi có mấy người bà con vừa từ Biên Hoà kéo về xin tạm trú. Trong cơn bối rối, hoảng sợ tôi leo lên yên sau chiếc xe Lambretta theo một người anh họ chạy vào trung tâm thành phố.

Đường Lê Văn Duyệt đông người, kẹt xe. Dân đang đổ dồn về Sài Gòn từ phiá Ngã tư Bẩy Hiền. Hai bên đường có mấy xác người đắp chiếu, chắc là từ những nơi khác kéo về, chết đêm qua do bởi đạn pháo mà không có ai là người thân lo chôn cất. Con đường này dẫn vào thành phố có trại lính nhẩy dù Nguyễn Trung Hiếu, Quân vụ Thị trấn và Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô là những căn cứ quân sự cần được bảo vệ. Chúng tôi chuyển hướng di chuyển qua đường Nguyễn Văn Thoại, thưa người hơn, nhiều chỗ kẽm gai giăng ngang ngã tư nhưng chẳng còn cảnh sát hay lính đứng kiểm soát, cứ luồn lách hay vạch sang một bên rồi chạy qua. Rẽ sang đường Trần Quốc Toản, qua Công trường Dân chủ, quẹo ngược vào Lê Văn Duyệt đến trước một cửa tiệm cầm đồ ở ngã ba vào khám Chí Hoà. Chúng tôi táp vào. Ở đó thấy ông anh họ lớn nhất nhà đang bàn chuyện với một sĩ quan cảnh sát. Một lúc rồi chúng tôi kéo nhau đi. Tôi vẫn ngồi yên sau xe lambretta, nhưng bây giờ chạy theo xe hơi của ông anh cả.

Chạy qua đường Trương Minh Giảng, ngang Đại học Vạn Hạnh. Nơi đây tôi còn nhớ gần chân cầu có con hẻm vào nhà ông Ngọc, người mà tôi và một bạn học đã đến gặp cách đây không lâu để tìm hiểu việc gia nhập Đảng Quốc tiến của cụ Trương Vĩnh Lễ mà ông Ngọc là tổng thư ký đảng. Tôi muốn hoạt động sinh viên, cùng vài bạn thân khác định ra tranh cử các ban đại diện nhưng được biết phải cần một đảng ủng hộ mới hy vọng thắng nên chúng tôi tìm đến Đảng Quốc tiến, có tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng sau yểm trợ. Tôi không ưa chính quyền của ông Nguyễn Văn Thiệu vì nạn tham nhũng và ông còn cho đàn em gia nô trong quốc hội sửa hiến pháp để được tái cử nhiều lần và có thể làm tổng thống suốt đời. Tôi theo các linh mục Trần Hữu Thanh, Đinh Bình Định là người rửa tội cho tôi khi mới chào đời, tham gia hội thảo, xuống đường chống chính phủ trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, Tân Sa Châu. Trong tình thế khẩn trương, đất nước rối ren như hiện tại không biết một người hoạt động chính trị đảng phái như ông Ngọc bây giờ có tính toán gì cho thời vận quốc gia trong những ngày sắp đến hay cũng đã bỏ cuộc, di tản rồi?

Xe chạy vào hướng thành phố, đến một ngôi nhà trên đường Trương Minh Giảng, nghe nói chủ nhà có quốc tịch Pháp. Nếu cộng sản vào họ cũng nể Pháp kiều, không làm khó dễ. Ở đó mấy người lớn chờ ngóng điện thoại reo, bàn bạc với nhau tìm tuy-ô vì tình hình dường như đã trở nên nguy kịch lắm rồi.

Chừng hơn giờ sau, chúng tôi lại kéo nhau ra khỏi nhà, đi theo xe cảnh sát do một đại úy lái chở gia đình của ông. Chạy vào trung tâm thành phố, ngang đường Hồng Thập Tự, Công Lý vào Tự Do thấy nhiều tụ điểm đông người chen nhau để được vào bên trong. Đông nhất là cửa Toà đại sứ Mỹ trên đường Thống Nhất.

Chiến tranh có lẽ rồi sẽ vào thành phố nên người ta phải bỏ nơi đây mà đi thôi. Đi đâu thì chưa biết. Chúng tôi theo xe cảnh sát chạy vòng qua đường Trần Hưng Đạo, vào những con hẻm nhỏ vắng người, có chỗ bên đường là những con rạch nước đen, có lúc vào đường cùng, phải chạy ngược ra.

Cuối cùng chúng tôi đến được bến Kho 5.

Bến cảng chen chúc người. Gần những nơi có tàu đậu, đầy rẫy xe hơi, xe máy cùng hành lí ngổn ngang vất bỏ trên bờ. Nhiều người đang xô đẩy nhau để leo lên tàu. Thỉnh thoảng có tiếng súng liên thanh nổ. Tôi theo gia đình ông anh, lớn bé tất cả chín người, lên một tàu nhỏ, loại tàu kéo chỉ có phòng lái phiá trước còn phiá sau không có gì ngoài mấy cuộn giây thừng to hơn cổ tay. Lên tàu được một lúc, tôi leo xuống theo lệnh người lớn, hình như là chủ tầu hay người tổ chức di tản. Lúc này tôi lạc mất người thân.

Thánh Martinô luôn ở bên cạnh tác giả

Thánh Martinô luôn ở bên cạnh

Đang lớ ngớ, lo lắng không biết phải làm gì bây giờ, đi về thì không có phương tiện mà muốn lên tàu thì đâu biết ai cho lên vì trong túi chẳng có lấy một đồng đô-la hay vàng bạc gì.

Bỗng dưng có một người phụ nữ tay dắt, nách mang hai đứa con nhỏ đang hối hả đi về hướng sông. Thấy tôi đứng lơ ngơ, chị hỏi tôi có đi không, với một giọng đặc miền nam. Tôi hỏi: “Đi đâu?” Chị nói: “Đi xuống miền tây để tránh chiến tranh”. Tôi gật đầu. Chị nhờ tôi giúp bồng đứa bé trai xuống con tàu lớn đang đậu. Đó là một con tàu sắt dài có đến 30 mét, nhưng không mấy người chen nhau leo lên như những tàu khác.

Đứng trên boong tàu nhìn xuống sông Sài Gòn có nhiều ca-nô qua lại đưa người lên những tàu lớn. Trên bờ nhiều người giành giựt, xô đẩy nhau để leo lên những con tàu đang đỗ bến. Còn tôi lên tàu này sao dễ quá, không có ai đòi tiền hay bắt nộp vàng. Người phụ nữ nhờ tôi bế đứa con cũng chẳng hỏi tôi chuyện tiền bạc.

Khoảng 4 giờ chiều, tàu Việt Nam Thương Tín chật người chầm chậm ra đi, qua nơi tôi đứng. Phiá trước nhiều tàu khác cũng nhổ neo. Chập sau, tàu kéo lúc nãy tôi đã leo lên nép sát vào tàu lớn. Mấy người hô, quăng, rồi buộc giây vào kéo nó đi. Tôi hỏi một người vừa ròng giây và mới biết con tàu này có tên Saigon II, mới đóng xong và chưa ráp máy, dự định đóng xong sẽ là tàu chở gạo ra nước ngoài buôn bán. Tàu không có máy nên giờ phải kéo nó ra khỏi Sài Gòn.

Con tàu lững lờ trôi theo giòng sông. Trên bầu trời từng đoàn trực thăng bay ra, bay vào thành phố. Nắng chiều mang màu vàng úa, pha mây xám, khói đen bốc lên từ phiá phi trường Tân Sơn Nhất. Gia đình tôi giờ ra sao? Bố mẹ và các em có đang ở bên nhau hay cũng phân tán để tránh bom đạn trong cơn biến loạn này? Tôi nhớ Thu Hương, cô bạn học tôi thương từ ngày còn ở trường Nguyễn Bá Tòng. Mấy tuần qua chúng tôi không gặp nhau vì phi trường đóng cửa không cho ra vào. Hai hôm trước tôi điện thoại nhưng không ai trả lời. Có thể gia đình nàng đã di tản vì ba Hương là trung tá không quân và nhà ở cư xá kiến ốc trong vòng đai phi trường.

Chắc chỉ như hồi Mậu Thân thôi! Tôi tự vấn an nhưng mắt nhạt nhòa nhìn về phiá chân trời ngập khói lửa và lòng thầm hát:

Chiều này sương khói lên khơi
thùy dương rũ bến tời bời
làn mây hồng pha ráng trời
sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…
[1]

Khi qua khúc sông Lòng Tảo có nhiều tiếng nổ từ hai bên bờ vọng lại. Mấy người lớn loan tin tàu Việt Nam Thương Tín phiá trước bị trúng đạn pháo, có người chết, xác vất xuống sông. Mọi người được lệnh xuống hầm tàu. Trong bóng tối tôi chỉ còn biết cầu nguyện rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Giật mình thức giấc giữa đêm vì có nhiều tiếng la, khóc trên boong. Những người trên con tàu kéo được chuyển sang tàu lớn vì sắp ra biển. Lúc đó tôi mới gặp lại gia đình ông anh họ.

Sáng hôm sau phải cố gắng nhiều lần tôi mới ngồi dậy được rồi từ từ ráng leo mấy bậc thang để lên boong cho đầu óc bớt choáng váng. Nhưng đi từng bước là từng cơn ói mửa thốn lên từ bụng khiến tôi ói ra đến mật xanh, mật vàng vì từ trưa hôm qua đến giờ tôi chỉ ăn vài muỗng đậu nhặt được từ một lon đồ hộp mở sẵn của ai đó ăn không hết vất đi.

Trên boong tàu có gió biển nên đỡ mệt. Dựa lưng vào thành tàu tôi nhận ra không còn nghe tiếng máy nổ như tối qua. Cố đứng lên nhìn chung quanh. Không thấy tàu kéo đâu. Hay Saigon II đã bị bỏ lại giữa biển? Trời mây đen và biển mờ phủ sương. Nhìn về phiá trước tôi mới nhận ra con tàu kéo ở một khoảng cách xa và dây kéo chìm trong nước.

Mấy người lớn tụ họp nghe ra-đi-ô phát đi phát lại lệnh đầu hàng. Tiếp đến là tin cộng sản đã vào đến Sài Gòn. Một lúc sau từ ra-đi-ô có lời ca:

Rừng núi giang tay
nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi
để nối sơn hà…

Mặt đất bao la
anh em ta về
gặp nhau mừng như bão cát
quay cuồng trời rộng bàn tay ta nắm
nối tròn một vòng Việt Nam…
[2]

Tôi bật khóc nức nở. Không khí buồn trĩu bao phủ trên tàu.

Những người quen với chủ tàu nói tàu sẽ được kéo đi Tân Gia Ba để bán. Số tiền thu được chủ sẽ trả cho thuỷ thủ Đại Hàn của con tàu kéo một nửa.

Tâm trí tôi hoang mang. Thế là mình bắt đầu cuộc hành trình xa xứ hay sao? Bỏ lại gia đình, bạn bè, bỏ lại quê hương với tuổi thanh xuân đầy ắp kỷ niệm? Tôi đã lớn lên trong một quê hương chiến tranh, cùng bạn bè ôm ấp những ước mơ hoà bình:

Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội
dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn
nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin
vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
cố nuôi vững bền những tình thương lớn…
[3]

Bao lần chúng tôi đàn ca bên nhau, ghi vào băng những dòng nhạc để nhắc nhở về mơ ước một ngày hoà bình đến trên quê hương.

Nhưng sao tôi lại bỏ đi khi hoà bình đến! Những bạn bè sinh viên của tôi: Thịnh, Long, Thiêm, Lý, Hoà có ai đang bỏ quê hương ra đi như tôi không? Tuần trước chúng tôi còn rủ nhau đi nghe cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ nói chuyện chiến đấu đến cùng và nếu cần nơi đây sẽ biến thành Stalingrad. Hai hôm trước chúng tôi tụ họp xem ti-vi, với hy vọng Tổng thống Dương Văn Minh sẽ có giải pháp hoà bình, trung lập cho đất nước. Có ai nghĩ đến chuyện bỏ nước mà đi. Giờ mình tôi giữa đại dương mênh mông, đầu óc quay cuồng muôn vàn ý nghĩ. Không biết quê hương rồi sẽ ra sao và tháng ngày trước mặt sẽ đưa tôi đến một nơi chốn nào?

*

Tôi theo đoàn người phiêu bạt đến những bến bờ bất định. Tàu được kéo đi, nhưng cứ lạc hướng và bị hải quân Mã Lai đuổi mấy lần nên phải mất năm ngày từ khi rời bến Kho 5 mới đến được Tân Gia Ba.

Vùng biển gần quốc gia hải đảo này đã có nhiều tàu lớn và tàu đánh cá từ Việt Nam neo đậu. Chính phủ ở đây không cho ai lên đất liền, nhưng cho thực phẩm mỗi ngày. Sau nhiều ngày ăn uống thiếu thốn, giờ có được những lát bánh mì, những trái bôm ăn sao thấy ngon ơi là ngon. Có hôm nhận được hộp pa-tê Made in China, sản phẩm của Trung Cộng khiến tôi suy nghĩ. Một quốc gia là nước thù nghịch vì đã giúp cộng sản miền Bắc đánh chiếm miền Nam khiến tôi phải ra đi, chạy chốn những điều xấu về thế giới cộng sản đã được tuyên truyền trong nhiều năm của cuộc chiến tranh, mà bây giờ những người tị nạn lại được phát cho thực phẩm chế biến từ Trung Quốc để ăn. Có điều gì nghịch lí lắm chăng?

Tàu của chúng tôi neo không xa bờ của quốc gia hải đảo này lắm. Ban đêm nhìn vào thành phố thấy những bin đinh cao mấy chục tầng đèn điện sáng rực, còn trên mặt biển đoàn tàu của người di tản cũng lấp lánh những ánh đèn.

Một hôm thấy hàng không mẫu hạm Mỹ tiến vào cảng làm mọi người hi vọng sẽ được bốc đi Subic Bay hay Guam. Những thuyền trưởng tới tấp gửi tín hiệu cầu cứu. Nhưng chiếc Midway được lệnh không bốc người tị nạn từ Singapore.

Món quà kỉ niệm từ anh lính Tân Gia Ba

Quà kỉ niệm tác giả tặng anh lính Tân Gia Ba là đồng tiền giấy Việt Nam Cộng hoà, trong số 5.940 đồng có trong túi khi tác giả rời bỏ quê hương

Trong một tuần neo ngoài khơi, mỗi tàu của người Việt đều có lính Tân Gia Ba lên canh giữ an ninh. Những người lính trẻ này có thái độ rất nhã nhặn với người lớn và vui với trẻ em. Đến với tàu Saigon II có anh lính tên Loh Jian Lih tối tối hay đem kèn ha-mo-ni-ca ra thổi cho đám trẻ nghe. Một tối ngồi nghe anh lính thổi kèn có cả mấy thuỷ thủ Đại Hàn nữa, họ hát mấy bài tiếng Hàn quốc, rồi hỏi mấy người tị nạn chúng tôi có biết bài hát nào không, tôi đề nghị một bài hát phổ thông quốc tế “Clementine” và cùng nhau hoà ca:

Ôi em yêu kiều
ôi em yêu kiều
người yêu dấu
hỡi Clementine…
[4]

Tiếng Anh của tôi chỉ là ít từ vựng ghép thành những câu nói rời rạc để có thể chuyển đạt điều gì đó với anh lính Tân Gia Ba, với mấy người Hàn quốc. Sau mấy tối văn nghệ bỏ túi trên tàu, anh Loh Jian Lih và tôi trao đổi với nhau chút quà kỉ niệm đánh dấu cuộc gặp gỡ tình cờ trong cơn biến động lịch sử của vùng Đông nam Á. Anh tặng tôi tờ 1 đô-la Tân Gia Ba với chữ kí, tôi kí tặng lại anh tờ 500 đồng bạc Việt Nam, thường gọi là tờ con cọp.

Tình hình trở nên căng thẳng hơn vào một buổi sáng có ai từ một tàu khác đã ném mấy lựu đạn xuống biển, nổ tung. Tin đồn loan truyền là có một tàu với nhiều lính Việt Nam Cộng hoà còn trang bị đủ loại vũ khí doạ sẽ đổ bộ lên Tân Gia Ba nếu quốc gia này không cho người tị nạn lên bờ. Hôm đó chính phủ Tân Gia Ba cho phản lực cơ chiến đấu đảo quanh và trực thăng bay lượn trên trời.

Một hôm ông anh họ và một đại diện chủ tàu được đưa vào đất liền đi họp cả ngày mà không thấy về. Trong khi chiều tối lại có lệnh chuyển người từ Saigon II qua những tàu khác làm nhiều người hết sức hoang mang. Chúng tôi theo lệnh lính xuống một du thuyền. Có một gia đình với hai chị em bị phân chia khi chuyển tàu, chị phải đi theo chồng, còn anh thanh niên bị tách ra. Anh phản đối liền bị lính Tân Gia Ba, không phải những anh lính đã lên tàu giữ an ninh trong những đêm trước, dùng báng súng phạng túi bụi vào lưng.

Một phần ba số người từ Saigon II được chuyển qua một tàu khác. Giữa đêm, hải quân Tân Gia Ba đưa ông anh và đại diện tàu lên tàu mới, hộ tống ngay ra hải phận quốc tế và chỉ đường đi Subic Bay là căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân.

*

Tàu Đông Hải chen chúc với hơn 2 nghìn người trên đó. Lại đang có dịch đỏ mắt, tôi sợ lây bệnh nên ban ngày không ở dưới hầm tàu vì không khí ngột ngạt và hay có người xỉu. Lên boong không còn một chỗ ngồi. Tôi tìm được một nơi cao, trên lưng chừng cột cờ của tàu, làm nơi nương tựa ban ngày. Khuya về mới xuống hầm tìm chỗ nào đó dựa lưng cho đỡ mỏi. Ban ngày nhìn biển bao la, xa xa thỉnh thoảng cũng thấy bóng dáng những con tàu khác. Đêm về trời tối đen. Những hôm thấy ánh đèn lốm đốm ở xa, có người bảo đó là những giàn khoan dầu.

Trên tàu tôi nghe có tướng tư lệnh Thủy quân Lục chiến Bùi Thế Lân và nhiều sĩ quan, binh lính theo ông di tản từ Vũng Tầu. Lại nghe nói cướp bóc đã xảy ra nên sợ. Tôi cũng lo nếu chủ tàu hay ai đó đòi trả tiền thì tôi sẽ phải làm sao vì trong người chỉ có vài nghìn đồng tiền Việt Nam mà giờ đã vô giá trị.

Lúc ở bên Saigon II, ông chủ tàu Nguyễn Văn Ngọc là người rất tử tế đã nói là không ai phải trả tiền cho ông. Ông còn đưa gạo cho chú Thành, một người lính hải quân, nấu cơm bằng nồi là nửa thùng phuy cho khoảng 300 người ăn mỗi ngày. Nhiều hôm tôi giúp chú Thành đi kiếm gỗ trên tàu làm củi thổi cơm. Rời Sài Gòn lúc đó có Trung tá Trần Văn Lợi, giám đốc Hải học viện Nha Trang, người có cấp bậc cao nhất và biết tiếng Anh nên ông đứng ra lập danh sách số người trên tàu để gửi đi cầu cứu các nơi. Ngoài ra còn có chú Tư to cao, hình như biết lái tàu, có Đại úy Cảnh sát Nguyễn Văn Mười và ông anh họ là Thẩm phán Trần An Bài và gia đình.

Trên đường từ Tân Gia Ba đi Phi Luật Tân tàu Đông Hải gặp một con tàu xin cứu giữa biển. Tàu này lớn như Đông Hải nhưng chở rất ít người, nghe đâu chỉ có hơn một chục nên đã bị hải tặc chặn cướp, lục lọi lấy hết vàng, tiền bạc. Chủ tàu sợ quá nên không dám tiếp tục chuyến hải hành. Hai con tàu kè sát vào nhau. Một số gạo và lương khô được chuyển qua Đông Hải bằng cần trục. Có người leo qua xem còn gì để lấy. Sau đó chủ tàu tháo van cho nước vào rồi leo qua Đông Hải.

Đông Hải tiếp tục lướt đi, bỏ lại con tàu gặp nạn chầm chậm chìm vào lòng biển khơi.

Một tuần trên tàu Đông Hải có người nấu cơm phân phát cho đồng bào mỗi ngày một lần, mỗi người chừng hơn một chén với vài con cá mòi đóng hộp và ít nước uống. Những người có tiền thì ăn mì gói. Tiểu tiện là mấy cầu tiêu bằng gỗ chênh vênh cạnh sườn tàu.

Ban ngày tôi ngồi trên cao, chịu nắng mưa và gió, nhìn biển cả bao la, mịt mùng. Hôm nào trời mưa là cảm thấy đỡ khát. Áo quần ướt cứ mặc rồi lại khô. Một hôm có đàn cá heo chừng hai chục con bơi dọc theo tàu, nhảy lên nhào lộn. Nhiều người đổ qua một bên xem khiến con tàu nghiêng làm tôi phải một phen hú viá, tưởng như tàu sắp lật. Nhiều tiếng la lớn yêu cầu bà con giãn qua bên kia cho con tàu thăng bằng trở lại.

Đến Subic Bay, có lệnh căn cứ chỉ nhận thêm 300 người, ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ. Gia đình ông anh với đứa con một tuổi nên được xuống tàu để vào căn cứ Mỹ trên đảo.

Hải quân Mỹ tiếp tế lương thực cho Đông Hải và hộ tống nó đi Guam.

Sau những ngày lênh đênh trên biển với bao nỗi lo sợ, hoang mang, người tôi ngả nghiêng say đất khi đặt chân xuống đảo Grande Island trong căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân. Hành trang chẳng có gì ngoài chiếc bình nhựa người lính Tân Gia Ba cho. Tôi đã dùng bình để đựng nước mưa hứng được trên Đông Hải và giữ nó như một bảo vật, sợ mất sẽ không còn nước uống. Nhiều người đến trước đứng bên cầu tàu nói lớn: “Lên bờ rồi, vất bỏ hết đi. Trên này có nước đầy đủ”. Tôi không tin, cứ ôm chặt bình trên tay. Khi qua khu khám xét nhân viên an ninh cầm vất nó vào thùng rác, bấm vào cổ tay tôi một giây nhựa ghi số nhập trại: 39347

Bấy giờ tôi mới định thần, không còn sợ đói khát và tin là mình đã sống sót.

*

Sau khi nhận lều và đi lãnh một số thứ đồ dùng cần thiết như quần áo, khăn tắm, xà-bông thì trời đã tối. Hỏi người đến trước để xác định ngày tháng tôi biết hôm đó là tối ngày 16.5.

Sau mười bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, đêm đó tôi tắm gội cả tiếng đồng hồ nơi vòi nước công cộng để rửa đi muối mặn của biển trên da thịt và nỗi lo sợ đói khát, chết chìm đã theo tôi suốt mấy tuần qua.

Kết quả kì thi Tú tài II khoá tháng 6.1973. Ngày sinh được tác giả xoá đi để tôn trọng hồ sơ cá nhân của các thí sinh

Kết quả kì thi Tú tài II khoá tháng 6.1973. Ngày sinh được tác giả xoá đi để tôn trọng hồ sơ cá nhân của các thí sinh

Ngày sau coi bóp xem còn lại những gì tôi đã đem theo. Thẻ căn cước. Chứng chỉ động viên tại chỗ. Thẻ sinh viên luật khoa và văn khoa. Bản kinh cầu Thánh Martinô từ nguyện đường bên cạnh nhà thờ Thánh Tôma ở Trương Minh Giảng. Bản dịch tiếng Anh bằng Tú tài II với mặt sau tôi nhật kí trên biển, mảnh giấy kết quả kì thi Tú tài II năm 1973 và 5.440 đồng tiền Việt Nam cộng với tờ 1 đô-la Singapore do anh lính tặng mấy hôm trước đây.

Tôi đã cất giữ mảnh giấy kết quả kì thi Tú tài vì đó là món quà rất đặc biệt do hai bạn thân Thịnh và Hoà tặng. Ai đã trải qua cửa ải thi Tú tài đều nhớ cảm giác chờ đợi ngày đi xem danh sách thí sinh thi đậu được niêm yết tại hội đồng chấm thi và tại các điạ điểm tổ chức thi. Ba tuần sau ngày thi là thời gian hồi hộp nhất cho các thí sinh. Khi trên đài phát thanh thông báo ngày giờ niêm yết kết quả là học trò rủ nhau đi xem. Không đến sớm, danh sách vừa dán lên có thể sẽ bị xé mất lại phải chờ đến khi một bản khác được niêm yết lại. Hôm công bố kết quả ở trung tâm Chi Lăng tôi không đến sớm để xem. Hai bạn Thịnh và Hoà có mặt và đã xé tờ kết quả đem về và còn viết thêm chữ U vào sau chữ T ở cột thứ hạng bên cạnh tên tôi. Xem tờ kết quả tôi không tin là thật vì tôi không thể đỗ đạt đến hạng tối ưu. Sức học của mình tôi biết, nếu đậu có hạng cũng chỉ đến bình thứ chứ không tài nào cao hơn. Xem kĩ lại biết mình chỉ đậu hạng thứ. Mà thi đậu là mừng rồi. Phòng thi của tôi có 30 thí sinh mà chỉ 5 người đậu. Đọc danh sách thấy tên mình là một niềm vui không thể nào tả hết. Thi đậu là được tiếp tục cấp giấy chứng chỉ động viên tại chỗ để được hoãn dịch thêm một năm nữa và con đường tương lai đại học đã mở ra. Còn thi rớt buồn lắm, nhất là đối với đám thanh niên chúng tôi vì tương lai sẽ là ở quân trường rồi ra chiến trường.

Chứng chỉ động viên tại chỗ, tức giấy hoãn dịch của sinh viên học sinh

Thày Đoàn Văn Thơm dạy tôi môn toán ở trường Nguyễn Bá Tòng hay nói đùa với học trò rằng: “Ở Việt Nam Bộ Giáo dục trực thuộc Bộ Quốc phòng”, vì đề thi được chọn dễ hay khó tùy thuộc vào nhân lực Bộ Quốc phòng cần có cho nhu cầu chiến trường. Thực ra bộ giáo dục đã có chính sách nâng đỡ thí sinh, nhất là vào những thời điểm chiến tranh lên cao như sau Mậu Thân 1968 hay Mùa Hè Đỏ lửa 1972, Bộ Quốc phòng đã ban hành lệnh tổng động viên, lệnh đôn quân, nhưng các kì thi có giới hạn chương trình để giúp học sinh và sau kì thi có vớt điểm. Việc giới hạn chương trình, bỏ đi một vài chương của môn học thì dễ hiểu. Còn vớt điểm, tôi thực sự không hiểu rõ nguyên nhân lắm. Thí dụ, bình thường một thí sinh ban B nếu có tổng số điểm 165 là thi đậu, với quyết định vớt điểm thì hạ xuống còn 160.

*

Đến được bến bờ rồi tôi không còn lo sợ với cái chết, nhưng giờ đây trong tôi, cũng như nhiều người tị nạn là một nỗi nhớ gia đình, nhớ bạn bè, quê hương da diết.

Những buổi sáng và tối tôi cùng nhiều người theo dõi tin quê nhà, tin định cư qua các làn sóng đài BBC và VOA. Tương lai của tôi sẽ đi về đâu? Các tin tức nhận được nói quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định chi 400 triệu Mỹ-kim để định cư người tị nạn. Nhưng thủ tục để được định cư ra sao và chúng tôi sẽ còn phải ở trại bao lâu thì không ai rõ. Trong trại thỉnh thoảng nghe thông báo có người được rời trại đi định cư ở Pháp, Úc hay Tân Tây Lan mà lòng nôn nao cùng mừng cho họ có may mắn sớm rời trại để đi đến những quốc gia khác.

Hình tác giả trong thẻ sinh viên Đại học Luật khoa, niên khoá 1974-1975

Hình tác giả trong thẻ sinh viên Đại học Luật khoa, niên khoá 1974-1975

Những ngày ở Subic xin được mấy tờ giấy viết thư mà tôi chẳng biết viết cho ai hay gửi về đâu nên dùng nó ghi vội gia phả của mình. Chẳng nhớ gì nhiều ngoài tên bố mẹ, sáu người em, những gia đình chú bác ở gần mà tôi biết. Tôi cũng ghi xuống ngày giỗ ông bà nội, ông bà ngoại là những người tôi chưa hề biết mặt, nhưng ngày còn ở nhà mẹ thường dặn dò nếu sau này bố mẹ chết đi, các con hãy nhớ những ngày giỗ chạp mà đọc kinh cầu nguyện cho bố mẹ, cho ông bà. Tôi cũng tính ngược thời gian để ghi lại quãng đời đi học, từ ngày vào lớp năm trường Nghiã Hoà, lên trung học đệ nhất cấp ở trường Thánh Tâm, đệ nhị cấp ở trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn, sau qua Gia Định, rồi lên đại học. Tôi ghi để nhớ và để chuẩn bị trên đường tị nạn khi khai giấy tờ xin đi định cư thì khỏi phải suy nghĩ nhiều.

Thời gian ở trại tị nạn Subic có một việc làm mà đàn ông con trai rất sợ, gọi là “đi bay”. Mỗi gia đình phải cử một người nam làm công tác vệ sinh này. Người của toán vệ sinh được phát cho bộ đồ như áo bay của phi công để đi hốt phân rồi đem đốt nơi bãi phế thải chất dơ có mùi hôi khó tả. Hốt hầm cầu là việc làm thấp hèn đối với người Việt Nam nên đã có người trả tiền cho người khác làm thuê. Tôi làm công tác vì đến lượt mình và nghe nhiều người nói họ làm thuê lấy tiền.

Thời gian ở đây tôi nhớ nhất những buổi tối ngồi dưới chòi hoà nhạc nghe tiếng đàn ghi ta và một giọng ca rất trẻ hát nhạc Trịnh Công Sơn:

Ngoài hiên mưa rơi rơi
hồn ai như chơi vơi
người ơi nước mắt hoen mi rồi…
[5]

Giọt nước mắt thương con
con ngủ mẹ mừng
giọt nước mắt thương cây
cây cằn cõi bao năm
giọt nước mắt thương dân
dân mình phận long đong…
[6]

Người trẻ đó là ca nhạc sĩ Việt Dũng sau này. Trong trại còn một giọng nam khác, tuổi hơn ba mươi, chọn biệt danh “Đông Hải Two Thousand” để nhớ con tàu đã đưa ông – và tôi – đến đây. Ông hát “Tình ca” của Phạm Duy với một giọng rất truyền đạt, quặn vào lòng người xa xứ một nỗi buồn, một niềm nhớ quê hương khôn nguôi:

Tôi yêu tiếng nước tôi
từ khi mới ra đời, người ơi
mẹ hiền ru những câu xa vời
à à ơi! tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi!
bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi!
tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…

Một yêu câu hát Truyện Kiều
lẳng lơ như tiếng sáo diều, ơi diều làng ta
và yêu cô gái bên nhà
miệng xinh ăn nói mặn mà, mà có duyên…

Nghệ sĩ La Thoại Tân và Việt Dũng đang chuẩn bị tổ chức một chương trình văn nghệ giúp vui cho đồng bào và sân khấu đang được dựng lên trên sàn một xe tải nhà binh.

Nhưng tôi không được xem vì phải rời Subic sau 5 tuần ở đó.

[ảnh trong bài của tác giả]

___

[1] Thuyền viễn xứ, nhạc Phạm Duy

[2] Nối vòng tay lớn, nhạc Trịnh Công Sơn

[3] Chưa mất niềm tin, nhạc Trịnh Công Sơn

[4] Một bài dân ca Mỹ thường nghe hát trong các sinh hoạt của thiếu nhi và hướng đạo tại miền Nam.

[5] Ướt mi, nhạc Trịnh Công Sơn

[6] Nước mắt cho quê hương, nhạc Trịnh Công Sơn

___

[Từng phần của loạt bài này đã được đăng trên mạng BBCVietnamese.com, damau.org, Nguyệt san Độc Lập (Stuggart – Cộng Hoà Liên Bang Đức) và báo Việt Mercury (San Jose, CA). Nay loạt bài được bổ sung đưa lên Blog của tác giả.]

© 2009 Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in tản văn and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s