Chiếc lồng đèn của em tôi

Bùi Văn Phú

Năm em tôi vào lớp Một, ngày khai trường tôi dắt em đi học qua những con phố với nhiều cửa tiệm đã giăng đèn Trung thu sặc sỡ mầu sắc. Tuy vậy, cái nôn nao của ngày đầu tiên đến trường đã không làm em tôi để ý nhiều đến cảnh vật chung quanh. Tôi hiểu em tôi lắm, nếu không nghĩ đến chuyện gì khác thì đã rối rít hỏi về Tết Trung thu sắp tới và thế nào cũng đòi mua lồng đèn ngay từ bây giờ, dù còn vài tuần nữa mới đến ngày Rằm tháng Tám.

Một tuần đã qua, mỗi sáng tôi đưa em đến trường trong không khí lành lạnh của buổi vào thu, khi sương mù còn che phủ thành phố. Sau khi đưa em đến trường tôi ghé vào thư viện học bài cho đến trưa lại đón em về.

Em tôi thật hồn nhiên, chỉ biết có lớp học, cô giáo và những đứa trẻ con mới là bạn cùng lớp. Những lời dặn dò đầu năm của cô giáo làm em tôi bận rộn cả tuần: nào đồng phục sạch sẽ, nào là những thứ cần cho việc học như bút lá tre, lọ mực, hộp bút chì mầu, tập viết, sách giáo khoa, đồ làm thủ công. Sau mỗi buổi học, cô giáo căn dặn gì thì chiều về em tôi nhất định đòi tôi đưa đi mua ngay. Em chỉ sợ nếu không có sẽ làm bài trễ, cô giáo phạt cho ăn roi. Đó là điều lo sợ dễ hiểu đối với trẻ con vì vậy tôi không ngần ngại đưa em ra tiệm sách, tiệm tạp hoá ngoài phố để em mua những thứ cần thiết.

Chiều tối em tôi loay hoay quanh chiếc cặp mới, lo sắp đi sắp lại tập vở, học cụ cho vừa vặn, ngăn nắp. Nhìn em mà lòng tôi xôn xao hồi tưởng về những ngày thơ ấu cũ. Em tôi hiện tại là hình ảnh của chính tôi mười năm về trước, cũng với bao nhiêu yêu thương chiều chuộng từ gia đình. Tuổi thơ thật thần tiên, tươi đẹp. Tôi tự nhiên cảm thấy tiếc nuối thời gian của những năm tháng hồn nhiên. Tôi muốn sống lại những ngày tháng vô tư ấy bên cạnh em tôi vì tôi chỉ có một người em trai duy nhất. Tôi muốn em tôi được hưởng trọn vẹn những niềm vui của tuổi nhỏ.

Một tối thứ Bẩy, sau cơm chiều, em tôi không loay hoay bên chiếc cặp mới mà đang ngồi xem ti-vi. Có lẽ còn ngày mai Chủ Nhật được nghỉ học nên em tôi không vội vàng với cặp vở. Tôi cũng ngồi coi ti-vi một lát rồi quay vào với việc học của mình. Thỉnh thoảng nghe tiếng cười giòn ngây thơ vang lên. Trên ti-vi đang là giờ của phim hoạt hoạ, một chương trình mà em tôi thích xem.

Trời vừa tối. Hết coi ti-vi, em tôi lại bên cạnh bàn như muốn nói với tôi một điều gì.

Anh Khanh ơi…

Chuyện gì vậy Khánh?

Em tôi thì thầm nho nhỏ như sợ có ai nghe thấy:

Em nói nhỏ anh cái này nghe.

Chuyện gì mà Khánh phải nói nhỏ?

Có cái này không biết anh có mua cho em không thôi?

Thì Khánh cứ nói. Nếu bằng lòng anh sẽ cho Khánh biết, chứ có gì mà phải nói nhỏ.

Nói to sợ mẹ nghe được mẹ mắng em đó.

Vậy Khánh nói nhỏ anh nghe.

Kề gần tai tôi, em tôi thỏ thẻ:

Mấy hôm nay mua đồ đi học cho em, anh xin tiền mẹ phải không?

Ừ. Vì anh làm gì có tiền để mua cho em nhiều thứ đồ dùng cho lớp. Mà em hỏi làm gì vậy?

Hôm nay em đã có đủ. Em xếp trong cặp.

Khánh của anh giỏi lắm. Đi học mấy hôm mà đã biết chuẩn bị ngăn nắp.

Nhưng trông vẻ mặt tôi biết em còn muốn mua thêm gì nữa.

Khánh còn cần gì nữa không?

Em thích cái này anh mua cho em nghe.

Cái đó là cái gì. Có đắt lắm không?

Không đắt đâu. Chắc anh mua được mà.

Sao Khánh vòi anh thế. Anh không biết đắt rẻ thì làm sao mà nói trước được.

Ngập ngừng giây lát. Em tôi nói nhỏ:

Anh mua cho em chiếc đèn Trung thu đi.

Tưởng gì. Nghe nói thế tôi gật đầu ngay. Em tôi hỏi tiếp:

Ngày mai đi mua đèn được không anh. Em thấy nhiều tiệm có treo lồng đèn.

Sau chuyện sách vở bây giờ em tôi mới nghĩ đến ngày vui, nhớ Tết Trung thu sắp về. Tôi không muốn em tôi thất vọng hay phải chờ đợi lâu:

Ừ. Ngày mai anh sẽ dẫn em đi mua lồng đèn.

Nghe tôi nói thế trên mặt em tôi hiện lên những nét hân hoan.

*

Phố xá thật tấp nập vào ngày Chủ Nhật. Dù không mua sắm gì nhưng nhiều người thích ra phố trong ngày nghỉ. Tôi dắt em theo dòng người dạo qua những cửa tiệm có treo nhiều lồng đèn. Đến trước một cửa tiệm có đông khách với lồng đèn treo ngang dọc, đủ mầu, đủ loại. Em tôi níu tay:

Vào tiệm này đi anh.

Đông khách quá.

Nhiều người chắc là họ bán rẻ đó anh.

Suy luận của em tôi có phần đúng. Thực ra tôi thấy tiệm này có nhiều loại lồng đèn đẹp nhưng tôi muốn chờ cho thưa khách. Thấy em đòi và không muốn em tôi nóng lòng chờ thêm, tôi dắt em lách qua đám đông trước cửa tiệm để vào bên trong. Trên trần treo các loại đèn con cá, con thỏ, máy bay, tầy thủy, củ ấu. Em tôi có vẻ thích nhất loại đèn con cá chép và đòi xem. Tôi hỏi cô bán hàng cho xem vài chiếc khác mầu. Giá một lồng đèn hai ngàn đồng. Em tôi nhìn ngắm từng chiếc, hết mầu này qua mầu khác, nhưng lại tỏ vẻ không thích mua. Coi qua, rồi em tôi buột miệng chê xấu mà tôi không hiểu tại sao.

Qua một cửa hàng khác, cũng chỉ thấy mấy loại lồng đèn như tiệm trước và giá cả cũng thế. Qua đến tiệm thứ ba mà em tôi cũng không chọn mua cái nào. Tôi hỏi em:

Nếu Khánh không thích đèn cá chép thì chọn đèn khác.

Em tôi lưỡng lự trả lời:

Lồng đèn ở mấy tiệm này xấu mà còn đắt nữa. Hai ngàn đồng một chiếc. Em không muốn mua đèn nữa đâu.

Nghe em tôi nói mà thương làm sao. Em lo sợ tôi phải tốn nhiều tiền. Tôi ra ý chiều lòng em:

Anh thấy cũng không đắt lắm. Anh xin mẹ đủ tiền mua cho em.

Không. Em thấy nó đắt quá.

Tôi hỏi lại em lần nữa:

Hay Khánh không thích đèn con cá?

Em thích nó. Nhưng đắt quá. Mẹ sẽ mắng em nếu em đòi mua. Mà còn mấy ngày nữa là Tết Trung Thu hả anh?

Hai tuần nữa. Tôi trả lời.

Hay anh làm cho em một chiếc lồng đèn được không?

Đề nghị bất chợt của em làm tôi lưỡng lự. Trong nhà hai anh em thường chơi nghịch với nhau nên tôi đã có dịp làm nhiều món đồ thủ công cho em tôi chơi như máy bay giấy, máy chiếu phim bằng pin, tầu thuỷ chạy bằng sà phòng, súng bằng dây sắt. Em tôi biết tôi thích làm đồ chơi nên vòi vĩnh thế.

Tôi chưa dám nhận lời ngay vì không biết mình có làm được không. Tôi đưa em qua hết con phố, nhìn ngắm những lồng đèn con cá, quan sát kỹ để học hỏi về cách thiết kế. Tôi nghĩ mình cũng đủ khéo tay để thực hiện, nhưng thời gian dành cho việc học thi của tôi cũng không còn nhiều. Tôi chỉ sợ không đủ thời gian để làm.

Khi đã qua hết những cửa hàng, tôi quyết định:

Anh sẽ làm cho em một lồng đèn.

Bao giờ anh làm được?

Chủ Nhật tuần tới.

Nghe lời hứa, em tôi mỉm cười hân hoan, còn hỏi tôi:

Em giúp anh được không?

Được chứ.

*

Một ngày thứ Bẩy tôi đi mua nứa, giây kẽm, giấy bóng kiếng mầu, bột vẽ, bút vẽ và bột hồ. Chiều lo gọt nứa, uốn kẽm để cố gắng hoàn thành điều mà em tôi ước mơ. Em tôi thì loanh quanh bên cạnh để tôi sai làm những việc vặt như đi đổ rác, lấy dao, kéo hay rót nước.

Sang ngày Chủ Nhật khung sườn con cá chép đã thành hình. Chiếc khung to đến 80 phân, gần gấp đôi những chiếc lồng đèn treo bán ngoài tiệm. Tôi nắn nót lại khung tre trước khi đặt lên tấm giấy bóng kiếng, dùng phấn vẽ theo đường lằn rồi cắt thân, vây và đuôi cá. Hồ đã nấu sẵn, tôi phết lên khung, đặt giấy kiếng mầu xanh tím lên, vuốt theo những lằn nứa cho giấy ịn vào. Xong một bên tôi chờ cho khô rồi dán nửa bên kia. Khi con cá được phủ kín bằng giấy bóng kiếng mầu, em tôi vỗ tay mừng rỡ reo to:

Đẹp quá. Đẹp quá. Anh làm chỗ cắm nến lẹ lẹ rồi em đốt đèn thử nghe.

Chưa xong thì làm sao đốt lồng đèn được. Anh đố em biết con cá còn thiếu gì nữa?

Thiếu chỗ cắm nến. Em tôi nhanh nhẩu trả lời.

Không phải chỉ chỗ cắm nến. Còn thiếu nhiều. Khánh đoán lại xem.

Suy nghĩ vài giây rồi em tôi buột miệng:

Em không biết.

Bây giờ anh làm chỗ cắm nến ngay. Để Khánh có thêm thời giờ suy nghĩ và giúp anh dọn dẹp giấy vụn.

Tôi lấy dây kẽm xoắn vòng làm chỗ cắm nến dưới bụng cá trong khi em tôi lo hốt rác xuống bếp. Xong chỗ cắm nến tôi buộc sợi dây và chiếc que tre để cầm. Giơ cao lên, con cá trông thật to với mầu xanh tím nổi bật nhưng chưa hoàn tất.

Vừa dọn rác xong em tôi đã hỏi:

Con cá còn thiếu gì nữa vậy anh?

Khánh dốt quá. Vậy mà em nhìn không ra à.

Em không biết.

Nó bị luộc rồi em thấy không?

Em không hiểu.

Cá mà không thấy mắt, không còn vẩy là cá bị luộc chứ gì.

À. Anh còn phải vẽ mầu nữa. Vậy mà em quên mất.

Bây giờ anh treo lên góc nhà, chờ chiều hồ khô rồi sẽ vẽ.

Ăn cơm và nghỉ trưa xong, tôi sai em đi lấy ba cái bát, gáo nước để pha bột mầu vẽ vẩy cá, mắt, mang và đuôi. Những chiếc vẩy vàng có đốm hồng nổi bật trên da cá mầu xanh. Hơn một giờ sau con cá chép được hoàn tất. Tôi treo đèn trong một góc nhà rồi hai anh em cùng ngồi ngắm chiếc đèn mới xoay vòng chầm chậm qua lại theo cơn gió thoảng.

Điều em tôi mơ ước nay đã được toại nguyện. Còn mấy hôm nữa là Tết Trung thu. Thỉnh thoảng em tôi rủ vài đứa trẻ con hàng xóm lại để hãnh diện khoe chiếc lồng đèn to và đẹp.

Đêm Trung thu tôi dắt em tung tăng với đèn trong tay lại trung tâm sinh hoạt của thành phố để tham dự văn nghệ rước đèn. Có đến cả ngàn trẻ con và người lớn. Thật là một đêm vui của trẻ thơ. Ánh sáng muôn vàn mầu sắc tỏa ra từ những lồng đèn xinh xắn, đủ kiểu, đủ mầu. Trên bầu trời trăng sáng tỏa, tôi tưởng tượng ra những điều học được từ ngày còn nhỏ, ở đó có cây đa, thỏ ngọc, có chị Hằng, có chú Cuội đang nhìn xuống dân gian. Trẻ em được xếp thành ba vòng tròn cầm đèn đi rước quanh sân tạo thành ba vòng hào quang sáng lung linh. Đám trẻ vừa rước đèn vừa hát theo nhạc điệu phát ra từ những chiếc loa trên khán đài:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Cuội ơi ta nói cuội nghe
Ở cung trăng mãi làm chi…

Đám rước đèn đi quanh nhiều vòng rồi tụ họp trước một khán đài để nhận quà và xem múa ca, văn nghệ. Trong khi các em ngồi quây quần ăn bánh kẹo, ban tổ chức đi chấm giải lồng đèn đẹp. Khi ban giám khảo tuyên bố kết quả theo thứ tự giải an ủi, ba, nhì và nhất, từng tràng vỗ tay vang lên và tôi ngạc nhiên khi chiếc lồng đèn con cá của em tôi được giải nhất. Em tôi hớn hở lên nhận giải thưởng, ôm xuống, có một hộp bánh Trung thu, một bằng khen và năm ngàn đồng.

Với chút công sức và sự khéo tay tôi đã đem lại cho em tôi một ngày tràn đầy niềm vui.

*

Tết Trung thu năm đó cũng là năm cuối cùng tôi chia sẻ niềm vui với em tôi, với tuổi thơ Việt Nam. Đổi thay đến bất chợt khiến tôi phải xa gia đình, xa em tôi với muôn vàn thương nhớ trong nhiều năm không tin tức, thư từ liên lạc.

Nơi miền đất lạ một hôm tôi nhận được thư nhà.

Ngày … tháng … năm …

Anh Khanh thương nhớ.

Từ hôm anh xa gia đình đến nay cũng đã nhiều năm rồi. Lúc anh ra đi em tuy còn nhỏ nhưng em vẫn nhớ là hôm đó trời mưa. Em chỉ nhớ được vậy thôi.

Nhưng cũng từ ngày đó em thấy thày mẹ hay buồn, nhất là mẹ, thỉnh thoảng mẹ khóc. Em cũng thế, nhiều tối em khóc vì không có anh giúp em làm bài. Ngày xưa anh ở nhà còn có người đưa em ra phố mua cái nọ, cái kia. Những năm vắng anh, thày mẹ bận kiếm ăn sinh sống nên em phải tự làm lấy nhiều việc. Em thường cầu trời cho anh trở về để đưa em đi học.

Anh Khanh ơi. Không biết anh còn nhớ chiếc lồng đèn con cá anh làm cho em ngày xưa không? Nó cháy rồi anh ạ. Cháy từ năm kỉa, năm kia. Mấy năm qua em toàn chơi đèn ông sao với đèn con thỏ thôi. Đèn con thỏ bé lắm và hở nên hay bị gió thổi tắt nến. Còn đèn ông sao hay bị cháy.

Sau khi anh đi thày có đem chiếc đèn con cá trong nhà kho ra, đưa em đi chơi rước đèn một năm. Năm đó không còn nhiều trẻ em đi rước đèn. Em buồn vì nhớ anh nên cầm đèn không chú ý và chẳng có anh bên cạnh trông chừng. Em sơ ý để nó chạm đất, nghiêng đi làm lửa bắt cháy chỉ còn khung. Em khóc suốt tối. Thày dỗ em và có nói là thày sẽ bọc khung lại cất trong kho chờ mai mốt anh về anh sẽ mua giấy bóng kiếng rồi làm lại lồng đèn cho em.

Thày mẹ nói em viết thư cho anh, nhưng em chẳng biết viết gì. Em hỏi mẹ em kể chuyện cháy đèn có được không, mẹ không cho. Mẹ nói nếu anh biết thì anh sẽ buồn lắm vì em đã làm cháy nó. Nhưng thày đã bảo là giữ khung mai anh về làm lại cho. Vậy nếu không cho anh biết thì làm sao anh về mà làm lại. Em hỏi mẹ bao giờ anh về, nhưng mỗi lần như thế em thấy mẹ buồn, mẹ khóc làm em cũng khóc theo vì cả nhà đều nhớ anh.

Anh Khanh ơi. Bao giờ anh mới về thăm thày mẹ và em hở anh. Theo như thày mẹ nói thì em hiểu sơ sơ là anh chẳng bao giờ về được, có phải thế không anh?

Hôm nay em viết thư này, kể cho anh nghe về chiếc lồng đèn đã cháy, em giấu thày mẹ. Em xin anh một vài thứ cần để tự em làm lại nó. Lần tới gửi quà cho thày mẹ, anh gửi về cho em ít sơn mầu, mấy cọ vẽ và giấy bóng kiếng nghe anh. Anh gửi về sớm vì em định làm lại lồng đèn đó cho giờ thủ công trong lớp.

Em xin dừng bút. Cầu chúc anh luôn được dồi dào sức khẻo.

Cả nhà nhớ anh nhiều.

Em Khánh

*

Thư của em tôi đến vào buổi giao mùa và bên ngoài lá đang chuyển mầu vàng úa. Tôi chợt nhớ về quá khứ thật nhiều. Năm năm xa gia đình, xa em tôi, giờ chắc em đã lớn lắm, đã biết đi xe đạp. Tôi vẫn hình dung ra hình ảnh em tôi thơ ngây theo chân tôi đến trường, theo tôi đi dự Tết Trung thu ngày nào. Tôi cảm thấy chút nhói đau trong tim và một nỗi buồn ùa tới. Nhưng tôi phải đi ngay. Đi ra phố tìm mua những thứ mà em tôi đã dặn trong thư để gửi về gấp.

© Buivanphu 1981

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in tản văn and tagged . Bookmark the permalink.

One Response to Chiếc lồng đèn của em tôi

  1. Bùi Đức Thiện says:

    Tình cảm anh em thật đẹp! Đọc bức thư của người em viết cho người anh, em xúc động vô cùng!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s