10 năm tôi đi một vòng trái đất. Bài 2: Thành phố lều Orote Point, Guam

Bùi Văn Phú

Bài 1

Tin tức từ chương trình phát thanh Việt ngữ của các đài VOA, BBC cho biết Quốc hội Mỹ đã chấp thuận một đạo luật cho người tị nạn Đông Dương được vào Mỹ định cư đã đem lại tin vui và hy vọng trong trại. Người tị nạn đến được Philippines dần dần được đưa qua Guam.

Sau hơn một tháng ở Subic, tôi rời trại bằng tàu hải quân Mỹ để qua căn cứ không quân Clark Air Force Base, rồi lên máy bay C-130 đi Guam vào một buổi tối. Đây là loại phi cơ vận tải quân sự nên không có ghế mà hành khách ngồi võng treo dọc hai bên thân máy bay. Nhìn cảnh này tôi nhớ đến những đoạn phim thời sự đã coi trong rạp xi-nê ở quê nhà với lính từ lòng phi cơ nhảy dù đổ bộ vào chiến trường. Tiếng động cơ nghe lớn và vì ngồi võng nên tôi cảm thấy con tàu lắc lư nhiều.

*

Đến Guam vào một trưa nắng gắt. Trại Orote Point còn có tên là Tent City – thành phố lều – rộng hơn nhiều so với trại Subic, nhưng vắng bóng cây xanh. Khi xe buýt vào bãi đậu, hai bên hàng rào kẽm gai có nhiều người đứng chờ, có tiếng ơi ới gọi nhau, hỏi thăm tin tức ai đi được ai không với nhiều cái lắc đầu buồn buồn.

Song các thủ tục nhập trại, gia đình ông anh họ vì sợ đứa con nhỏ bị nắng nên xin vào một khu có chút bóng mát.

Tôi được đưa đến một căn lều nhà binh, vén cửa vào trong thấy một người ngồi lặng thinh trên giường bố, vẻ mặt rất buồn. Căn lều dựng trên nền đất với chục chiếc giường nhưng đều trống và chỉ có một người, thêm tôi là người thứ hai. Anh hỏi tôi đến từ đâu, tôi trả lời từ Subic. Anh nói anh đang xin hồi hương. Tôi ngạc nhiên và hỏi anh vì sao chưa đến Mỹ mà đã muốn hồi hương. Anh là lính hải quân, ra đi bất thình lình, bỏ lại vợ con và bây giờ nhớ gia đình quá nên muốn trở về. Anh tự giới thiệu là nhạc sĩ Trường Sa. Nghe tên người nhạc sĩ, tôi nhớ ngay một bài hát khá phổ thông trên làn sóng điện của đài Sài Gòn. Tôi hỏi có phải anh viết những lời ca mà Lệ Thu đã hát: “Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi. Chiều đong đưa những bước chân đau buồn…”. Anh nhận mình đúng là tác giả. Mắt anh đỏ hoe. Khuôn mặt đầy những lo âu, buồn chán. Anh hỏi tôi có ý định hồi hương không? Tôi nói tôi cũng đi có một mình, bố mẹ và các em còn ở lại, nhưng tôi muốn đi tới để xem nước Mỹ ra sao chứ không muốn trở về.

Tình cảnh của nhạc sĩ Trường Sa làm tôi nhớ đến chú Thành là hoả đầu quân trên tàu Saigon II mà tôi thường theo giúp chú nấu cơm thùng trong những ngày trên tàu. Khi đến Subic tôi được chú nhờ một chuyện rất riêng tư, vì chú không biết chữ, là viết thư và gửi điện tín tìm vợ chú tên Khánh, không biết có rời Việt Nam được không. Chú đoán là vợ không ra đi nên viết thư nhờ Hồng Thập tự chuyển về nhà, địa chỉ bên khu Khánh Hội. Chú đọc thư cho tôi viết với giọng xúc động vì nhớ vợ con nên tôi cũng cảm động theo. Hoàn cảnh của chú cũng làm tôi nhớ bố mẹ và các em. Điện tín gửi đi các trại, khi nhận được giấy báo từ Hồng Thập tự chú lại nhờ tôi đọc, nội dung tuy ngắn nhưng mang nhiều nỗi buồn vì không có tên vợ chú trong danh sách người tị nạn đã đến các trại. Nhiều lúc buồn chú cũng tỏ ý muốn quay về với vợ con. Tôi rời Subic mà không biết chú Thành có quyết định hồi hương hay không.

Bản đồ trại Orote Point ở Guam, còn gọi là Tent City

Ở Guam ngày chỉ có hai bữa ăn, sáng từ 7 đến 11 giờ, chiều từ 3 đến 8 giờ mà hàng người xếp hàng lúc nào cũng dài dưới cơn nắng hải đảo.

Vì trời nóng và thiếu bóng mát trong trại nên nhiều người hay rủ nhau ra biển chơi. Tôi có ra biển một lần, vừa xuống nước, lội xa bờ chừng vài mét là đạp phải đá sắc cạnh lổm ngổm bên dưới nên tôi không đi tắm biển nữa. Buổi tối có chiếu phim ngoài bãi biển và tôi cũng đi xem. Có phim với vai chính Charles Bronson là anh chàng tài tử với bộ râu mép và bộ mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, nhưng đánh đấm hay bắn súng thì hết xẩy mà tôi đã được coi ở rạp Rex hay Eden ngày nào. Phim với Charles Bronson chiếu ở Sài Gòn nói tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ nên tôi đinh ninh là tài tử Pháp, cũng nổi tiếng như Alain DeLon. Bây giờ nghe Charles Bronson nói tiếng Anh, không có phụ đề nên chẳng hiểu gì, chỉ những cảnh sôi động đấm đá, bắn súng là hấp dẫn. Tựa phim chiếu tối đó tôi không nhớ mà chỉ nhớ cảnh trừ gian diệt bạo với tiếng súng nghe rất rát tai và dưa hấu bể văng mầu đỏ tứ tung trên màn ảnh.

Ở Guam không còn nghe được các đài VOA hay BBC vì thế tin tức về thế giới bên ngoài không có nhiều. Trong trại có tờ Chân Trời Mới phát hành mỗi ngày với các tin về đời sống và vấn đề định cư người tị nạn. Tờ báo được nhiều người chuyền tay nhau đọc. Bàn tán quanh trại vẫn là chuyện bao lâu sẽ được định cư và tin tức về một nhóm người đòi hồi hương thường gây ồn ào với biểu tình, viết huyết thư yêu cầu Hoa Kỳ sớm đưa họ trở về Việt Nam làm nhiều người chú ý.

Chính phủ Mỹ đã mở ra mấy trại trong nội địa Hoa Kỳ để đón người tị nạn, nhưng chọn trại nào trên đất Mỹ thì có thuận lợi và bất lợi gì? California, Florida hay Arkansas, Pennsylvania? Muốn đi California phải xếp hàng từ sáng sớm để ghi tên. Ai cũng nói California nắng ấm, khí hậu hợp với người Việt nên gia đình anh họ cũng chọn đi California. Nhiều người ghi tên trước, chờ chuyến bay cả tháng cũng chưa được đi. Ông anh họ có đứa con nhỏ hơn một tuổi và hay ốm đau, sợ cái nắng nóng ở Guam cháu chịu không được lâu nên muốn rời đây càng sớm càng tốt. Hàng người xếp hàng ghi danh đi California dài thật dài trong khi nếu chọn đi đến trại ở bang Pennsylvania lại vắng tanh. Ai cũng nói qua bang này lạnh lắm, người mình không quen chắc sống không được.

Khi gia đình ông anh quyết định đổi ý và xin đi Pennsylvania, tôi đi theo. Anh nói cứ rời Guam đã, vào đất Mỹ mùa này cũng chưa lạnh mà hi vọng ở đó đời sống trại tị nạn cũng tốt hơn cái nắng ở đây. Mới ghi tên buổi sáng, chiều được lên danh sách để được đưa qua trại Anderson, cạnh phi trường, chờ chuyến bay vào đất Mỹ.

Ở Guam đúng một tuần, tôi rời Orote Point qua căn cứ không quân Anderson, ở đó một ngày rồi lên đường vào nước Mỹ bằng máy bay hãng Northwest Oriental Airlines do chính phủ bao thuê.

Lên máy bay mới biết không phải mọi người đều đi Pennsylvania. Có người ghi tên đi California, có người đi Florida, người đi Arkansas. Trên chuyến bay không chỉ có người tị nạn Việt ra đi từ Việt Nam mà có cả người Việt từ Lào chạy qua Thái Lan cũng được tập trung về Guam trước khi được đưa vào trại tị nạn trong nội địa Hoa Kỳ.

Không như chuyến bay từ Subic qua Guam bằng phi cơ quân sự, hành khách ngồi võng, chuyến bay này là loại máy bay lớn chở hành khách với ghế ngồi đàng hoàng và mấy trăm người được phục vụ hết sức chu đáo. Trước giờ ăn mấy cô tiếp viên đưa khăn vải mầu đỏ, bộ muỗng niã i-nóc sáng bóng. Bữa cơm trên máy bay là gà hay bò xào tùy khách chọn, ăn với bánh mì, sà-lát. Tráng miệng có trái cây đóng hộp thơm ngọt. Ăn xong có khăn lau tay thơm rực mùi nước hoa. Tôi thấy vài người đã giấu khăn ăn, muỗng dĩa để làm kỉ niệm.

Khi phi cơ chuẩn bị đáp, những người hiểu tiếng Anh truyền nhanh tin là máy bay sẽ hạ cánh xuống California. Tôi và nhiều người ngạc nhiên. Những người ghi tên đi trại khác ngoài California như tôi cho là xuống đây để chuyển máy bay.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự El Toro ở miền nam California. Tất cả chúng tôi được xe buýt nhà binh đưa vào trại tị nạn. Trên xe có mở máy sưởi nên tôi cảm thấy bình thường, nhưng khi rời xe để nhập trại mới cảm thấy cái lạnh.

Có lẽ là người đến từ vùng nhiệt đới nên tôi lạnh run người, dù đang là mùa hè của đất Mỹ.

*

Đọc lại Chân Trời Mới, tờ báo tị nạn đầu tiên.

Ngày 30.04.1975 chính quyền miền Nam xụp đổ, hai hôm sau, thứ Sáu ngày 2 tháng 5, một tờ báo dành cho người tị nạn ra đời tại đảo Guam. Hòn đảo này của Hoa Kỳ nằm trong Thái Bình Dương là nơi đón tiếp người Việt được di tản bằng máy bay trong tháng 04.1975 và những người đã rời Việt Nam sau đó bằng thuyền bè.

Chân Trời Mới số đầu tiên phát hành tại trại tị nạn ở Guam ngày 02.05.1975

Chân Trời Mới số đầu tiên chỉ có 2 trang, in trên giấy trắng khổ 28 cm và 43 cm, gồm tiếng Việt và tiếng Anh.

Dưới tiêu đề “Về số báo đầu tiên” viết bởi Đại Úy Lục Quân E.G. Brock, trưởng phòng thông tin trại, và được dịch ra tiếng Việt, thì tờ báo ra đời là do nỗ lực của ông Bob Muller, một nhân viên Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ và bốn người Việt làm việc tình nguyện. Tên báo do ông Phan Thụy Nghi đề nghị, họa sĩ Nguyễn Văn Sử trình bày, ông Vương Hoài Đức phiên dịch Anh ngữ ra Việt ngữ và ông Phạm Kim Khánh lo điều hành tổng quát.

Trên đầu trang nhất có hình và tin về Phó Đề Đốc George S. Morrison làm tư lệnh phụ trách Chương Trình Đời Sống Mới, một kế hoạch do chính phủ Hoa Kỳ lập ra để tiếp nhận và lo định cư người tị nạn đến từ các nước Đông Dương. Tin chính của số bào đầu tiên là việc Hoa Kỳ loan báo mở cửa một số trại binh trong lục địa để đón tiếp người tị nạn là Camp Pendleton ở California, Fort Chaffee ở Arkansas và Eglin Air Force Base ở Florida.

Cũng nơi trang nhất, phần tin giờ chót có 6 tin ngắn. Tin nghe đài trong nước do ban kiểm thính của sứ quán Mỹ ở Thái Lan ghi lại, cho hay 8 tỉnh phía nam và phía tây Sài Gòn chưa được giải phóng và đài của chính quyền mới kêu gọi các tỉnh đó hãy “nhanh chóng qui phục”. Một tin khác nói Ngoại trưởng Henry Kissinger cho biết chính phủ sẽ sớm yêu cầu quốc hội dành ngân khoản để chăm sóc cho người tị nạn Đông Dương và theo một giới chức ngoại giao, ông Philip Habib, thì sẽ cần 500 triệu đô la để định cư khoảng 70 nghìn người tị nạn trong năm đầu tiên.

Chiếm trọn gần cả trang 2 là bản kiến nghị yêu cầu Hoa Kỳ tiếp tục di tản thành phần trí thức ra khỏi Việt Nam. Nguyên văn tiếng Anh của bản Kiến Nghị:

MOTION

To The Government & The People of The United States of America

We, the undersigned intellectuals who have been evacuated to Guam, recognize the great efforts of the American Government, the Governor and the people of Guam in securing our safeguard.

However, most of the highly qualified professionals are still stranded in Vietnam. We therefore urgently entreat the Government and the People of America to continue the effort in bringing them back to Freedom. We who have been more fortunate in being brought here before, are ready to share our place and the little we have in order to save as many of our fellow-countrymen as possible with us.

Guam April 28th 1975

Danh sách 55 tên và chữ ký, ghi lại theo bản chính cùng nghề nghiệp, hầu hết không có dấu tiếng Việt, theo thứ tự trước sau:

Le-Quoc-Hanh M.D., Nguyên Lôc M.D., Tu Thi My M.D.,

Do Ngoc Thu M.D., Phan Thi Kim Doanh M.D., Ho Thi Loan M.D.,

Lê-Hoang-Dziêu M.D., Nguyen Tran Chuyen, Nguyen Van Thieu M.D.,

Trinh Dinh Thien, economist; Nguyễn Lê Hiếu M.D., Nguyễn Quốc Ân,

Phạm Duy Cẩn tức Phạm Duy, Nguyễn-Bich Hue, Administor General;

Le Xuan Khoa, Director VAA; Mrs Pham Thi Mong Thu, Docteur ès Sciences;

Nguyen Ngoc Ky M.D., Mrs Ha Thi Phan, Pharmacist;

Mrs Nguyen Tuyet Bich, Pharmacist; Mr Le Trung Lap, Professor;

Mr. Nguyen Van Dinh, Professor; Tran Tien Huyen M.D., Tran Tien Sum M.D.,

Dao Duc Hoanh M.D., Le Van Diem M.D., Nguyen The Anh, Doctor in History;

Dư Thi Mỹ Lang, Nha Y Sĩ; Trịnh Đình Hiếu, Dentist; Nguyen Tien Dung M.D.,

Trịnh Ngoc Toan, Civil Engineer; Đỗ Phan Hanh, Doctor in History;

Tô Thị Diễn, M.A., Vu-Huu-Bao M.D., Pham Thi Luu Phuong M.D.,

Nguyen Thanh Tri M.D., Vinh Huyen, Past Chairman of Vietnamese American Association;

Nguyen Van Vinh M.D., Tran Quoc Trinh, Marine Surveyor & Sea Master;

Pham Cao Duong, Doctor of History; Nghiêm-Xuân-Tuân M.D.,

Nguyen Phuc Buu Tap, M.S., Le Thi Mong Lan, Pharmacist; Pham Ky, Ltc retired;

Chau Thanh Thuy, Ph.D. Univ. of North Carolina; Pham doan Duong, engineer;

Phan thi Tuyet Nhung, Pharmacist; Phạm thị Lạc Nhân, Professor;

Duong Minh Chau M.D., Ng Van Trương, Pilot; Tu Uyen M.D.,

Bui Khac Nghiep, Pharmacist; Duong Quang Hien, Pharmacist;

Nguyen-Huu-Nguon, Nguyễn Hải Bình, Ph.D.; Nguyen Van Thanh M.D.

___

KIẾN NGHỊ

Kính Gửi Chính Phủ và Nhân Dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ

Chúng tôi ký tên dưới đây là những nhà trí thức đã được di tản tới Đảo Guam, nhìn nhận những nỗ lực lớn lao của Chính Phủ Hoa Kỳ, của vị Thống Đốc và Nhân Dân Đảo Guam trong việc bảo đảm an toàn cho chúng tôi.

Tuy nhiên, còn phần đông những chuyên viên ưu tú còn bị mắc kẹt tại Việt Nam. Vì vậy chúng tôi khẩn thiết thỉnh cầu Chính Phủ và Nhân Dân Hoa Kỳ tiếp tục nỗ lực đưa họ về vùng Tự Do. Chúng tôi – những người có may mắn được di tản tới đây trước – sẵn sàng chia xẻ nơi ăn chốn ở mà chúng tôi có thể có được ngõ hầu cứu vớt được càng nhiều đồng bào của chúng tôi chừng nào tốt chừng ấy.

Đảo Guam ngày 28 tháng Tư năm 1975.

*

Chân Trời Mới mỗi số in từ 5 đến 10 nghìn bản, tùy theo dân số tị nạn trong trại, phát hành 5 lần một tuần, từ ngày 01.05.1975 cho đến khi trại đóng cửa vào cuối tháng 10.1975.

Theo thống kê ghi nhận trên Chân Trời Mới số 58 ngày 15.07.1975 thì tính đến 8 giờ sáng ngày 15.07.1975 số người tị nạn ở Guam là 7.128 người. Cũng tính đến thời gian đó đã có 113.947 người đến Guam và hầu hết đã được đưa vào các trại tị nạn trong nội địa Hoa Kỳ, ngoài ba trại ở những tiểu bang California, Arkansas và Florida được mở cửa đầu tiên, sau vì số người rời Việt Nam đông hơn dự trù nên Hoa Kỳ đã mở thêm một trại ở Indiannatown Gap, bang Pennsylvania. Khi các trại tị nạn đóng cửa cuối năm 1975, số người Việt được định cư là khoảng 132.000, gần gấp đôi con số 70 nghìn mà Hoa Kỳ dự tính di tản ra khỏi Việt Nam.

Chân Trời Mới số 58 ngày 15.07.1975 với hình ông quản đốc trại Lâm Quang

Cũng trong số 58, nơi trang nhất có bản tin về buổi lễ tiễn chỉ huy trưởng trại là Đại tá McCain, hình đi kèm bài có ông Lâm Quang, quản đốc trại, đang phát hiểu lời cám ơn. Ông Lâm Quang, tức Tony Lâm, năm 1992 được bầu làm nghị viên Hội Đồng Thành Phố Westminster, thủ phủ của người Việt ở Nam California và là vị dân cử người Mỹ gốc Việt đầu tiên ở Hoa Kỳ.

Trong số báo này cũng có bài về nhà văn Phan Lạc Tiếp kể lại những chuyện đã xảy ra ở Hải Quân Công Xưởng, bến Bạch Đằng, đêm 28 tháng 4 và chuyến ra đi của ông và gia đình. Một bài viết khoảng 600 chữ kèm với hình thật to của bốn bố con nhà văn quân đội này.

Qua những số báo Chân Trời Mới nhiều gia đình bị ly tán khi rời Việt Nam đã nhắn tin tìm nhau. Như Phạm Đức Dũng thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân, Lê Hùng thuộc Đại Đội Tài Chánh Sư Đoàn Dù di tản bằng tàu đến được Hồng Kông. Đại Úy Vũ Văn Thành, Phạm Thị Thu Vân, sinh viên cao học Quốc Gia Hành Chánh Trần Đình Hoành cũng đến được Hồng Kông và đang tìm thân nhân.

Với những biến động sau cùng của cuộc chiến đưa đến sự kiện hơn một trăm nghìn người Việt đã rời quê hương trong hốt hoảng và với những chia lìa, Chân Trời Mới đã là sợi dây giúp người tị nạn liên lạc với nhau, là nhịp cầu thông tin với thế giới bên ngoài và là món ăn tinh thần qúi giá, làm bớt đi những căng thẳng, lo âu trên bước đường tha hương.

[ảnh trong bài của Bùi Văn Phú]

© Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in tản văn and tagged , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s