Hòa giải, kiểm duyệt và giao lưu

Bùi Văn Phú

Trong bài viết về tác phẩm Thơ đến từ đâu được xuất bản trong nước, [talawas.org 21.12.2009, damau.org 09.01.2010] Tiêu Dao Bảo Cự có ôn lại quá khứ và nhắc đến truyện ngắn “Tự do hay là chết” của ông đăng trên tạp chí Đối Diện [1] xuất bản ở Sài Gòn đã bị cắt bỏ một đoạn với ghi chú: “Đối Diện mượn đoạn hai, hẹn một mai hòa bình sẽ xin trả lại tác giả”.

Dẫn chứng trên của tác giả cho thấy nhóm chủ trương tạp chí Đối Diện lo sợ điều gì đó nên phải cắt bỏ đoạn 2 của truyện ngắn, tuy mục đích của tạp chí là chống lại chế độ kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn đối với những thông tin đối lập và tiếng nói của những người hoạt động cho cộng sản.

Bìa Đối Diện số 36, tháng 6.1972 với bài viết “Tự do hay là chết” của Tiêu Dao Bảo Cự

“Tự do hay là chết” viết về một thanh niên bị cảnh sát bắt oan vì nghi là thành viên trong tổ ám sát thành phố. Trong thời gian thẩm vấn, cảnh sát dẫn về làng tìm tổ trưởng. Người tù chỉ đường cho cảnh sát chạy loanh quanh, tình cờ thấy bác T. là một nông dân hiền lành chất phác, người tù chỉ đại cho cảnh sát bắt để không thôi lại tiếp tục bị tra tấn. Thế là bác T. cũng bị bắt oan, bị tra tấn dã man, đấm đá vào ngực, hộc máu, đánh vào người bầm tím, dí thuốc lá vào đầu dương vật. Cuối cùng khi bị đưa ra tòa án quân sự, bác quyết liều thân, phóng ra khỏi xe cảnh sát với hy vọng thoát thân nhưng bị xe phía sau cán chết. Bác chỉ muốn tự do hay là chết. [Đối Diện – số 36, tháng 6.1972]

Đối Diện phát hành mỗi tháng, nổi tiếng chống chính quyền Sài Gòn vì thế đã nhiều lần bị tịch thu. Số 36 bị tịch thu, nhưng lí do không phải vì bài viết “Tự do hay là chết” mà vì những bài viết khác.

Theo thông tin của Tiêu Dao Bảo Cự, tôi tìm được hai truyện khác của ông đăng trên Đối Diện dưới bút danh Trường Sơn Ca. Truyện “Chọn một con đường” [Sđd số 41-42, Giáng Sinh 1972] và “Trích nhật ký trong trại giam” [Sđd số 46, tháng 5.1973] cũng là về những người tù trong số đó có tác giả, tượng trưng cho hàng trăm nghìn tù nhân đang bị chính quyền Sài Gòn giam giữ mà những người đứng đầu tờ báo cho là tù chính trị và đã công khai lên tiếng đòi trả tự do.

Chủ trương tạp chí là các Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị, Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Viết Khai và có sự cộng tác văn nghệ của thành phần sinh viên tranh đấu ở Huế như Ngô Kha, Bửu Chỉ, Trần Phá Nhạc, Thái Ngọc San, Tiêu Dao Bảo Cự, Lê Gành v.v… Như thế dù đối lập với chính quyền tờ báo vẫn được in và phát hành mỗi tháng, tuy nhiều số sau khi phát hành đã bị chính phủ ra lệnh tịch thu và chủ nhiệm là Linh mục Chân Tín đã phải ra tòa nhiều lần, bị kêu án tù, bị phạt tài chánh. Theo tài liệu đăng trên Đối Diện số 37 phát hành tháng 7.1972, kể từ số 11 đến số 36 chỉ có các số 19 và 20 là không bị tịch thu.

Bài viết “Chọn một con đường” của Tiêu Dao Bảo Cự với bút danh Trường Sơn Ca trong Đối Diện số 41-42, Giáng Sinh 1972

Tháng 8.1972 có sắc lệnh 007 bóp nghẹt tự do báo chí tại nam Việt Nam. Tuy nhiên Đối Diện vẫn tiếp tục xuất bản, có khi phải quay rô-nê-ô trong hoàn cảnh khó khăn. Sau khi các bên kí Hiệp định Ba Lê vào đầu năm 1973, tờ báo dựa vào điều 11 của hiệp định để đòi hỏi các quyền tự do căn bản cho nhân dân Việt Nam và đã phát hành những số đặc biệt như “Kỷ niệm Nguyễn Thái Bình”, “Hòa giải, hòa hợp, hòa bình” mà không thấy bị tịch thu nữa, tuy những người chủ trương vẫn bị cảnh sát theo dõi và mời lên làm việc.

Điều 11 của Hiệp Định Ba Lê 1973 ghi:

Ngay sau khi ngưng bắn, hai miền Nam Việt Nam sẽ:

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia.

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Sau ngày đất nước thống nhất 30.4.1975 những điều trên càng trở nên vô nghĩa. Dưới chế độ mới lại đã có biết bao nhiêu người bị tù vì bất đồng quan điểm, văn nghệ sĩ bị giam cầm, cấm viết. Sách báo xuất bản tại miền Nam bị cấm lưu hành. Đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho dân là coi như đối mặt với quản chế như Linh mục Chân Tín, Hòa thượng Quảng Độ trong quá khứ, hay tù đày như Linh mục Nguyễn Văn Lý, các Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ trong hiện tại. Xuất bản không có phép là vào tù ngay, như trường hợp tờ Diễn Đàn Tự Do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt vào đầu thập niên 1990. Báo chí không đi đúng với chính sách của nhà nước thì bị đình bản như tờ Tia Sáng mới đây. Thời đại thông tin điện tử mà nhà nước cấm dân truy cập, dựng tường lửa, đánh phá các mạng thông tin đa chiều.

Theo như bài dẫn trên của Tiêu Dao Bảo Cự, truyện ngắn “Tự do hay là chết” đã được đọc trên đài phát thanh Hà Nội và đài Giải Phóng sau khi đăng trên Đối Diện năm 1972. Như thế là tác giả đã được giới phụ trách văn nghệ giải phóng đánh giá cao. Nhưng sau năm 1975 một thời gian, khi nhận ra chế độ mới tiếp tục kìm kẹp sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, ông lên tiếng phản đối vì thế đã trở thành “một người có vấn đề”. Sống dưới chế độ, đã từng làm văn học nên Tiêu Dao Bảo Cự hiểu rõ về chính sách kiểm duyệt ở Việt Nam. Vì lẽ đó nên ông đã phải cho xuất bản những tác phẩm của mình ở hải ngoại trong gần hai thập niên qua.

Sau khi Tiêu Dao Bảo Cự phân tích về các sự kiện quanh Thơ đến từ đâu, ông đưa nhận xét đó là một bài học “cần rút kinh nghiệm chứ không nên đả kích”. Tôi đồng ý. Những phát biểu thiếu tự trọng đối với Nguyễn Đức Tùng nói riêng là người đã thực hiện các cuộc phỏng vấn cho Thơ đến từ đâu, hay với bất cứ ai và với độc giả nói chung là chứng tỏ người đó không còn đủ lý để trình bày, để tranh luận thì những ý kiến lăng nhăng đó không đáng được quan tâm.

Nhưng bài học cần học qua Thơ đến từ đâu là gì? Tiêu Dao Bảo Cự cho đó có thể như là một trận đánh du kích văn học, lẻ tẻ xâm nhập chờ thời cơ. Đánh được gì tôi chưa thấy, chỉ thấy Nguyễn Đức Tùng bị đánh lừa vì cả tin. Như nhiều doanh nhân về Việt Nam làm ăn, như Thầy Nhất Hạnh với Bát Nhã mới đây.

Hiện tại ngay cả với tác phẩm của Tiêu Dao Bảo Cự còn không thể ra đời trên quê hương Việt Nam mà phải đưa qua Hoa Kỳ xuất bản. Tập chính luận và bút kí Tiếng chim báo bão của ông vừa được Tủ sách Tiếng Quê Hương ở Mỹ ấn hành cuối năm 2009. Như thế làm sao tin được là sẽ có sự hòa giải hay giao lưu và tôi đã một lần góp ý với ông về vấn đề này.

Bao giờ trong nước tổ chức hội thảo có Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Trần Vàng Sao, Nguyễn Hưng Quốc, Đặng Tiến, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Ngọc Ngạn, Bảo Ninh, Trương Vũ, Bùi Ngọc Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Mạnh Hảo, Trần Vũ, Bùi Vĩnh Phúc, Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Mường Mán, Chu Lai, Y Ban, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nhật Tiến, Nhã Ca, Ma Văn Kháng, Lê Thị Thấm Vân, Trần Thị Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quốc Trụ, Trần Mộng Tú, Võ Phiến, Trần Thùy Mai, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bá Chung, Hoàng Khởi Phong, Trùng Dương, Nguyễn Quốc Chánh, Lý Đợi, Lệ Hằng, Mai Ninh, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Phan Lưu, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Mộng Giác, Dương Thu Hương, Lê Thị Huệ, Doãn Quốc Sĩ ngồi thảo luận văn học với nhau, chứ không phải chỉ ngồi nghe quan chức đọc diễn văn, khi đó tôi mới tin là có giao lưu văn học.

Chuyện này chưa xảy ra thì làm gì có không khí hoà giải, như nhà phê bình Đặng Tiến nhắc đến trong tham luận của ông về Thơ đến từ đâu [damau.org 08.01.2010]. Nếu ai trong nước đang thực sự có ý hướng hòa giải và giao lưu thì hãy thúc đẩy nhà nước cho phép tổ chức hội thảo văn học với những tác giả trong ngoài thuộc nhiều trường phái, khuynh hướng, tư tưởng khác nhau trong giòng văn học Việt Nam. Còn không, hòa giải vẫn là giấc mơ của cả dân tộc và giao lưu văn hóa chỉ là giòng chảy một chiều từ trong ra ngoài.

___

[1] Thư viện Đại học Cornell có Đối Diện từ số đầu tiên phát hành tháng 7.1969 đến số 56 phát hành vào năm 1974. Thư viện Đại học U.C. Berkeley cũng có nhưng không trọn bộ.

© 2010 Buivanphu

[Bài đã đăng trên damau.org 18.01.2009]

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in văn học nghệ thuật and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s