10 năm tôi đi một vòng trái đất. Bài 3: Chẳng mong mà được đến California

Bùi Văn Phú

“Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn. Tác giả ghi lại lời khi sống trong trại Camp Pendleton

Tôi rời Guam, đinh ninh sẽ được đưa đến trại tị nạn ở bang Pennsylvania. Không ngờ máy bay đáp xuống California giữa những ngơ ngác, lo âu.

Trời đang là buổi sáng một ngày tháng Bảy, tháng của mùa hè, nhưng khi chuyển từ máy bay qua xe buýt chẳng thấy hơi ấm California đâu mà là cái lạnh đến run người. Vừa đến nơi làm thủ tục giấy tờ, mỗi người được phát ngay cho một áo ấm.

Khi làm giấy tờ nhập trại, tôi nói đã ghi tên chọn đi tiểu bang Pennsylvania chứ không phải California. Qua lời thông dịch viên, một nhân viên di trú trả lời: “Anh không có sự lựa chọn trại nào để đến”. Ông yêu cầu trình giấy tờ tùy thân, tôi đưa thẻ căn cước và những giấy tờ khác như thẻ sinh viên, chứng chỉ động viên tại chỗ. Xong thủ tục, người thư kí bấm một lỗ vào thẻ căn cước và trả lại mọi thứ giấy tờ. Từ nay tôi chính thức trở thành người tị nạn trên đất Hoa Kỳ.

*

Thế là tôi đã đặt chân đến California, khác với chọn lựa ban đầu khi ở Guam. Sau này liên lạc với người quen ghi tên đi California thì biết họ lại được đưa qua Pennsylvania hay Arkansas dù phải chờ đợi thật lâu ở Guam. Đúng là chúng tôi không có quyền lựa chọn trên đường đến Mỹ tị nạn.

Tôi và gia đình anh họ gồm tất cả 10 người được đưa vào trại 5, ở lều nhà binh. Từ giờ tôi có một địa chỉ mới trên đường tị nạn: trại 5, khu 9, lều 12.

Đây là căn cứ huấn luyện của Thuỷ quân Lục chiến Mỹ nằm trong vùng đồi núi, có phải vì thế nên khí hậu lạnh chăng? Camp Pendleton được mở ra ngay sau khi Sài Gòn xụp đổ để đón tiếp người tị nạn. Trại 1, 2 và 3 là những ba-rắc nhà vòm, có giường hai tầng. Các trại khác là lều, người tị nạn ngủ trên giường vải bố. Đời sống ở đây cũng như những nơi khác là ngày xếp hàng ăn ba bữa, chờ đợi tương lai.

Thẻ ăn trại tị nạn Camp Pendleton, bang California

Đã hai tháng sống qua các trại tị nạn do chính phủ Hoa Kỳ quản lí tôi quan sát thấy nét văn hóa Mỹ đầu tiên mà người tị nạn phải học là tuần tự xếp hàng. Đi ăn, đi tắm, đi tiểu từ những ngày ở Subic, qua Guam và bây giờ ở đây cũng đều phải xếp hàng, nhưng không ai phải chờ quá lâu và mọi dịch vụ được cung cấp đầy đủ cho người đến trước cũng như kẻ đến sau. Mới chỉ có ít lâu mà hình như mọi người đã vào nề nếp. Việc gì có đông người bà con ta tự động xếp hàng thứ tự nối đuôi nhau, không ai chen lấn, xô đẩy hay giành giựt. Nhìn hàng người rồng rắn trước nhà ăn trong những bữa cơm là biết ngay. Lúc còn ở quê nhà thỉnh thoảng có việc phải đến phòng học vụ ở trường luật hay trường văn khoa mà sinh viên cũng chen lấn, đạp nhau để tiến tới cái cửa sổ nhỏ mà nộp đơn hay đóng lệ phí.

Làm người tị nạn xem ra sướng thật. Ngày ngày cứ xếp hàng để lính Mỹ phục vụ từng bữa ăn. Sáng có cháo thịt, cháo sữa với nho khô, có bữa trứng luộc, trứng quậy hay súc xích, thịt chiên. Tráng miệng có cam, táo, chuối. Nhiều người thích táo Mỹ nên giấu mang ra khỏi nhà ăn, dù ban quản trại đã nhiều lần nhắc nhở không được mang thức ăn về lều vì có thể làm mồi cho rắn đến. Bữa trưa nhiều hôm có chọp-sui, bánh mì lát kẹp dăm bông, bắp cải không trộn với nước mắm mà với loại nước dùng mầu trắng có vị ngọt. Bữa tối có thịt cốt-lết là tôi thích ăn nhất. Hôm nào có cơm gà người tị nạn xếp hàng dài vì có người xếp hàng hai, ba lần vì thích thịt gà. Cơm cá thì hàng người ít hẳn đi vì cá hấp kiểu Mỹ chỉ rắc muối và tiêu, thiếu nước mắm nên không hợp với khẩu vị người Việt.

Khí hậu California lạnh đối với tôi, dù là mùa hè. Trời nắng hay không, ra đường tôi luôn mặc chiếc áo ấm nhận được hôm nhập trại. Với một số người chiếc áo đó cũng không đủ ấm và còn xin thêm áo trê-di nhà binh để mặc thêm. Một người tôi quen kể rằng vì không chịu được lạnh nên ông cứ nhảy lên xe buýt nhà binh chở dân đi làm giấy tờ hay khám sức khoẻ và ở trên đó gần như cả ngày cho ấm.

Thỉnh thoảng có xe của hội từ thiện chở quần áo cũ vào phát. Khổ người của tôi nhỏ con nên chẳng tìm được chiếc quần hay cái áo nào vừa vặn, chỉ kiếm được một hai cái áo rộng thùng thình mặc đỡ.

Giải trí trong trại vào buổi tối có chiếu phim hoạt hoạ ngoài trời trên khoảng đất trống giữa khu lều trại và khu nhà vòm. Trẻ em hay chui vào những chiếc thùng cạc-tông ngồi xem cho đỡ lạnh. Tôi còn nhớ mãi khúc nhạc mở đầu của những phim hoạt hình Poppy the Sailor, một nhân vật tưởng tượng mà mỗi khi ăn một lon spinach – tra tự điển biết là rau muống – thì trở thành con người thần kì ra tay trừ gian diệt bạo.

Mỗi tối trước khi đi ngủ tôi lên khu bệnh viện xin đầy bình nước nóng đem về chui vào chăn, ôm ngủ cho ấm. Trong giấc ngủ tôi hay mơ thấy mình thi rớt, thấy còn bị kẹt lại ở Việt Nam hay chơi vơi rơi xuống vực.

Điện tín của Hồng Thập tự báo tin tìm thân nhân

Ở trại thấy ai cũng đi tìm thân nhân nên tôi cũng làm theo. Tôi ghi tên tìm Thu Hương và một vài bạn thân nhưng không mang chút hy vọng vì biết rằng ngoài Thu Hương thì bạn bè đâu có phương tiện hay tuy-ô nào để ra đi. Ít lâu sau có điện tín hồi báo cho biết một người duy nhất đã đến được trại tị nạn là ba của Thu Hương, Trung tá Không quân Nguyễn Vĩnh Tấn, đang ở trại Forth Chaffee, bang Arkansas.

Một vài lần tham dự hội họp sinh viên trong trại tôi gặp lại giáo sư Nguyễn Văn Canh của trường luật cùng một vài người từ xứ Nghĩa Hoà, Ngã ba ông Tạ là những anh lớn hơn tôi đôi tuổi, học trên tôi vài lớp như anh Trần Ngọc Long, anh Trần Năm Châu. Tôi cũng có dịp quen với chị Nguyễn Thị Thuỷ học văn khoa có cô cháu tên Liên. Vài người khác ở lều bên cạnh cũng trở thành thân quen như các anh Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Văn Liêm.

Đời sống trại phủ một nỗi nhớ quê hương trong khi tin tức về Việt Nam lại càng ít hơn so với ở Subic Bay hay ở Guam. Trong trại có phát hành một tờ bản tin khổ giấy văn phòng, nhưng tôi chỉ thấy qua một hai lần. Nhiều loại tin tức loan truyền trong trại mà tôi không rõ hư thực thế nào? Như có thành phần sinh viên phản chiến vào trại tuyên truyền bị đồng bào đuổi đi, như người dân Mỹ kì thị người Việt ngay cả thống đốc bang California cũng không muốn đón nhận người tị nạn Việt Nam đến định cư. Có tin nhiều tướng tá, ông lớn của Việt Nam Cộng hoà đến trại bị bà con phát hiện, đánh đuổi nên an ninh Mỹ đã phải đưa họ rời trại ngay. Chỉ mình Tướng Nguyễn Cao Kỳ vẫn sống cùng bà con ở đây. Căn lều của ông bên trại 7, nằm sát bìa ngoài của trại, gần nơi làm giấy tờ nhập trại cho những người mới đến. Có một lần đi khám sức khoẻ ngang qua một căn lều có MP đứng gác bên ngoài, nhiều người chỉ cho biết đó là lều của Tướng Kỳ.

Nằm ngoài bìa trại có một tượng điêu khắc ghi dấu nơi đây đã đón người tị nạn Đông Dương. Đó là một hình bàn tay phải đang nâng đỡ ba người tị nạn, một người sắp rớt ra khỏi lòng bàn tay mà có người kể chuyện vui rằng ba đứa tị nạn Việt, Miên, Lào được chính phủ Mỹ cứu vớt thì thằng sắp rớt là thằng Miên. Tôi hỏi sao lại là Miên thì nghe kể rằng trong thời gian đầu ở trại này đã có xung đột đưa đến đánh nhau giữa người tị nạn Việt và tị nạn Cam Bốt.

Trong khi chờ đợi được định cư, nhiều người quan tâm đến nhạc Việt và đã chuyền tay nhau sang lại những băng cát-sét vì lo sợ mai này khi rời trại thì di sản văn hoá đó sẽ không còn tìm lại được. Từ những máy cát-sét mang theo trên đường di tản hay mới mua từ cửa hàng PX nhiều băng nhạc Việt được vội vàng sao chép để giữ lại chút ít kỉ niệm của quê hương đã mất. Trong căn lều bên cạnh có một anh hay sang băng, mở máy lên là nhạc văng vẳng qua những lều chung quanh nên tôi thường có dịp được nghe ké. Những lúc rảnh tôi ghi lại lời ca một số bài hát của Phạm Duy, của Trịnh Công Sơn đã một thời tôi yêu thích. Một hôm có kẻ gian vào lều định ăn cắp chiếc máy cát-sét, có người thấy hô lên, rượt đuổi theo và bắt được kẻ cắp, giao cho an ninh trại.

Mỗi ngày có chuyến xe buýt chở người tị nạn lên PX, nghe nói là gần một quân y viện, để họ mua sắm. Nhiều máy cát-sét hiệu của Nhật đã được mua ở đây đem về lều trại nghe nhạc hay sang băng. Một lần tôi theo ông anh họ đi PX, cách trại chừng một giờ xe. Lần đầu tiên đến một cửa tiệm bán hàng ở Mỹ, trước hết mùi thơm phảng phất cho tôi cảm giác thật dễ chịu, sàn bóng loáng, rồi cách bày trí hàng ngăn nắp, gọn gẽ trong những tủ kính với ánh đèn sáng cho tôi ấn tưởng đẹp về cách tổ chức của người Mỹ. Ông anh mua một cát-sét Aiwa hai đầu máy giá 99 đô-la đúng như ghi trên bảng, không phải trả giá, không sợ mua hớ chi cả.

Thời gian trong trại tôi thường đến những lớp học tiếng Anh do tình nguyện viên tị nạn hay những người Mỹ thiện nguyện từ bên ngoài vào dạy. Tôi đến học nhiều lớp khác nhau. Trong các lớp với thày cô Mỹ thì lớp của bà Kelly được nhiều người thích vì bà nói rõ và chậm. Lớp do người Việt phụ trách như thầy Chương, thầy Tạ Quang Khanh dạy văn phạm cũng rất đông học sinh. Tôi vào lớp của giáo sư đại học văn khoa Đỗ Đình Tuân vài buổi, nghe giảng về văn chương Anh qua tác phẩm “Đỉnh Gió Hú” của Bronté mà tôi đã đọc bản tiếng Việt khi còn ở quê nhà. Nhưng trình độ lớp này cao quá.

Tôi thường đến lớp bà Kelly luyện tập những câu đối thoại về chào hỏi, cách giới thiệu bản thân hay những câu nói cần thiết khi đi mua sắm để chuẩn bị bước vào đời sống mới.

[ảnh trong bài của tác giả]

© Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in chính trị Việt, đời sống and tagged , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s