10 năm tôi đi một vòng trái đất. Bài 4: Bước vào đời sống Mỹ

Bùi Văn Phú

Sau 17 ngày lênh đênh trên biển và hơn 2 tháng dừng chân qua các trại tị nạn, ngày 6 tháng Tám năm 1975 tôi theo gia đình ông anh họ rời Camp Pendleton lên đường định cư. Xì-pông-so (sponsor = một người hay một tổ chức bảo trợ) là nhà thờ công giáo St. Mary Magdalena ở thành phố Berkeley, miền bắc California.

Trên đường ra phi trường, ngồi trên xe buýt lần đầu tiên tôi thấy sinh hoạt đời sống Mỹ. Từng hàng xe hơi nối đuôi nhau như đàn kiến di chuyển hết sức trật tự trên xa lộ thẳng băng. Không phải như cảnh phóng xe rượt đuổi trong các phim với Charles Bronson hay James Bond 007 mà tôi đã xem. Hai bên xa lộ có những khu nhà mái nâu, mái đỏ, có nhiều cây xanh tươi mát.

Đến phi trường tôi choá mắt trước vẻ hiện đại của nước Mỹ. Phòng đón hành khách sạch sẽ, nhiều cửa kính bóng loáng. Bên trong đông người qua lại hay xếp hàng trước quầy vé. Chúng tôi đi theo người hướng dẫn để làm thủ tục cần thiết trước khi lên máy bay.

Sau chừng một giờ bay, phi cơ đáp xuống phi trường Oakland khi trời đã về chiều.

Vừa ra khỏi máy bay thấy một linh mục và mấy giáo dân ra đón. Một bà Mỹ bắt tay tôi, hỏi chậm rãi: “How do you do?” nhưng tôi luống cuống không biết trả lời sao. Trên suốt chuyến bay tôi cứ nhẩm thuộc lòng trong đầu mấy câu tiếng Anh căn bản đã học và thực tập nhiều khi còn trong trại: “How are you? I’m fine. Thank you. And you?” để khi gặp người bảo trợ cũng tạo ấn tượng là mình biết chút Anh ngữ. Nhưng nghe bà Mỹ hỏi câu đầu tiên rất lạ, tôi ngớ người ra, im lặng, quê một cục vì nó không nằm trong khuôn mẫu những gì tôi đã học thuộc lòng.

Chúng tôi được đưa về một căn nhà lớn có 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm, có vườn trước, vườn sau xanh mầu cỏ cây, hoa lá. Những người trong giáo xứ chỉ cho chúng tôi tủ lạnh đầy trái cây, nước ngọt. Chỉ cách mở nước nóng, nước lạnh trong phòng tắm, cách dùng bếp ga, lò nướng. Trong lò nướng có sẵn hai khay đồ ăn. Một khay cơm mầu cam nhạt và một khay thịt với cà chua, rau xanh. Một phụ nữ nói tiếng Anh chậm rãi, giải thích gì đó và được anh lớn dịch lại. Theo lời bà, người trong giáo xứ biết người Việt Nam thích ăn cơm nên hôm nay đã nấu cơm để chào đón gia đình trong ngày đầu đến đây định cư. Tôi nghe và cảm động vì lòng ưu ái của những người bảo trợ. Nhưng không hiểu sao cơm không phải gạo trắng mà lại có mầu.

Những ngày sau có người của họ đạo đến chở chúng tôi đi làm giấy tờ cần thiết, chở đi chợ mua đồ ăn, nước uống.

Điều ngạc nhiên đầu tiên cho tôi sau khi bước vào đời sống Mỹ là sinh hoạt giáo đường ngày Chủ nhật. Do những thông tin sai lạc truyền tai trong trại tị nạn về đời sống tôn giáo ở Hoa Kỳ, tôi đinh ninh người Mỹ nay chẳng còn nhiều người đến giáo đường dự lễ, cầu nguyện, suy niệm Phúc âm. Trái ngược lại, nhà thờ St. Mary Magdalena ở Berkeley sáng Chủ nhật đông chật người dự lễ. Sau giờ lễ giáo dân gặp nhau ríu rít chào hỏi thân thiện, rủ nhau xuống hội trường uống cà-phê, nước trà, sô-cô-la nóng, nước cam, nước táo, ăn bánh ngọt đô-nất.

Trong lễ Chủ Nhật đầu tiên chúng tôi tham dự, cha chính xứ giới thiệu gia đình với toàn thể giáo dân và được cả nhà thờ vỗ tay chào đón. Tan lễ, nhiều người xúm xít hỏi thăm chúng tôi nhiều điều nhưng tôi chỉ hiểu lõm bõm được mấy câu chào hỏi, giới thiệu. Đây là một giáo xứ do các cha dòng Đa-Minh cai quản. Cha chính xứ O’Rourke đã ra đón chúng tôi ở phi trường. Cha phó Farrell cũng là ca trưởng của ca đoàn nhà thờ mà tôi đã được nghe những ca vịnh thánh thót trong thánh lễ.

Chiều chiều thường có người trong giáo xứ mang lại nhiều thứ cho chúng tôi từ quần áo, giầy dép, chăn mền, bánh kẹo cho đến xe đạp, sách báo, ti-vi, máy may. Có người ghé nhà dạy tiếng Anh như bác sĩ Hawk và vợ của bác sĩ Horn. Bà Magaret, bà Cadwell, bà Whitehead, ông Wilfred đến chở chúng tôi đi mua sắm, hướng dẫn về đời sống Mỹ. Bà Schiesel đã già yếu nhưng cũng thường đi xe buýt lại thăm hỏi, đưa chúng tôi đi chơi trượt băng. Có cô Meg, là sinh viên, cắt tóc kiểu đờ-mi gạc-soong dễ thương, nói tiếng Anh rõ nên tôi thích tập tành nói chuyện khi gặp. Cô giới thiệu với ông anh là Joe cho tôi đi làm thợ sơn.

Nghe nhạc, ghi lại lời ca trong một đêm không ngủ được vì nhớ nhà. “Giọt nước mắt quê hương” của Trịnh Công Sơn. Berkeley đêm 8.10.1975

Cuối tuần thường có mấy thiếu niên còn học trung học là con của những người trong giáo xứ lại chơi, bật ti-vi xem sô “Happy Days”, “Brady Bunch” là những chương trình giải trí và tôi cũng xem theo. Dần dần tôi hiểu ít nhiều và thích vai bé trai Bobby và bé gái Cindy là con út trong một gia đình hoà thuận với 6 người con của ông bà Brady. Tôi cũng thích anh chàng Fonzie trong sô “Happy Days” với lời ca đơn giản, dễ nhớ của bản nhạc mở đầu chương trình: “Monday, Tuesday happy day. Wednesday, Thursday happy day…” nghe cũng đem lại cho tôi chút ít vui vì đã đến được nước Mỹ nhưng trong lòng băn khoăn về tương lai, còn nặng một nỗi nhớ gia đình ở quê nhà mà không biết sống chết ra sao vì từ khi ra đi đến nay tôi không có tin tức.

Nhiều đêm tôi đã khóc vì nhớ bố mẹ và các em. Có những đêm không ngủ được, tôi mở máy cát-sét nghe và chép lại những bản tình ca của Trịnh Công Sơn, của Phạm Duy một thời cùng bạn bè yêu thích, đàn ca bên nhau mà giờ đây tất cả đã xa vời vợi. Trong nhiều giấc mơ tôi thấy mình bị rơi trong không gian, bị kẹt lại ở Việt Nam hay thi rớt mà toát mồ hôi lo sợ cho đến khi giật mình tỉnh giấc.

Một buổi chiều có người Việt ghé thăm làm chúng tôi ngạc nhiên. Đó là một cô gái Việt đi bán kẹo gây quỹ, tên Khiêm. Biết tin gia đình mới đến thành phố định cư nên cô ghé hỏi thăm. Khiêm sống gần đây và sau đó chúng tôi có dịp đến thăm, gặp được chị Đặng Bảo Kim, Khanh. Bố chị là giám đốc ngân hàng ở Việt Nam và ở đây đã mấy năm. Trong thành phố có một gia đình người Việt khác cũng mới tới định cư, mang họ Bùi, nên nhiều người tưởng tôi là anh em. Thực sự tôi họ Bùi, sống với ông anh con bác họ Trần, và không phải anh em của gia đình mang cùng họ.

Một hôm chị Kim chở tôi và mấy anh chị đi xem Phố Hippies – là con đường Telegraph dẫn thẳng vào khuôn viên Đại học Berkeley. Ở đó nhộn nhịp khách bộ hành. Nhiều người trẻ với tóc dài, quần jean, áo mầu sặc sỡ. Hai bên đường như chợ trời với những sạp hàng bán áo thun loè loẹt, bình lọ, vòng chuyền, bông tai đủ loại. Qua những con đường Bancroft và Shattuck tôi thấy trên tường, cột đèn còn những bích chương, tờ bướm chống chiến tranh, đòi hỏi Hoa Kỳ cắt viện trợ cho nam Việt Nam.

Sau vài tuần bước vào đời sống Mỹ và làm xong các giấy tờ như thẻ an sinh xã hội, thẻ y tế, xin trợ cấp, thẻ thư viện, chúng tôi được hướng dẫn ghi danh đi học, ba người nhỏ vào trường trung học, người lớn học Anh ngữ tại Berkeley Adults School.

Tiếng Anh là ngoại ngữ đầu tiên tôi học từ bậc trung học, bảy năm tất cả. Nhưng chữ nghĩa giờ có lẽ đã trả lại cho các thày: thày Trương Công Nhật dạy cấp hai ở Thánh Tâm, thày Trần Văn Hy và thày Hoàng Định dạy cấp ba ở Nguyễn Bá Tòng. Những năm ấy học tiếng Anh cơ bản chỉ từ vựng, văn phạm mà chẳng mấy khi mở miệng nói được một câu, hay được nghe chính người Mỹ nói tiếng Anh. Một lần duy nhất là năm lớp 9, hôm đó thày Trương Công Nhật vắng mặt, thày Nguyễn Văn Phan dạy thế và thày mời vào lớp một anh lính Mỹ để học trò chúng tôi có dịp nghe đàm thoại. Nhưng thày nói gì với người lính đó thì tôi, cũng như nhiều bạn học khác, cứ như vịt nghe sấm.

Lên cấp ba cũng chẳng khá hơn. Năm lớp 10 bố mẹ cho tôi đi học thêm Anh văn Ziên Hồng. Lớp của thày Đào Văn Sơn thỉnh thoảng có một cô người Phi Luật Tân vào luyện giọng. Nhưng tôi không đi học nhiều mà hay cúp cua ra ăn đậu đỏ bánh lọt rồi vào trong sân nhà thờ dòng Chuá Cứu thế nơi có toà soạn Tuổi Hoa để đọc báo. Những năm lớp 11 và 12 chữ nghĩa tiếng Anh của tôi viết lắp ráp từ vựng thế nào đó, chắc là kiểu “no star where” – không sao đâu – nên có lần thày Hoàng Định đã phê trong vở bài tập của tôi một câu: “viết tiếng Anh như cá nấu chè”.

Có dịp coi ké ti-vi kênh số 11 bên nhà hàng xóm với những phim như “Wild Wild West”, “Gun’s Smoke”, “Mission Impossible”, “Combat” hay “Bonaza” thì tôi và đám trẻ chỉ xem hình, thỉnh thoảng được gia chủ là một người làm sở Mỹ giảng giải một vài câu để biết nhân vật nào trong phim là kẻ thiện, ai là người ác. Tôi thích nhất “Combat” và “Mission Impossible” vì nhiều khi ít nói nhưng hồi hộp.

Trước khi vào lớp E.S.L. ở Berkeley Adults School tôi qua kì thi khảo sát trình độ và được xếp vào lớp thấp nhất, cấp A, học với một cô giáo da đen còn rất trẻ và có lưng gù. Học được chừng một tháng cô thấy tôi biết nhiều từ vựng nên đề nghị cho lên cấp B của cô Collins người da trắng, hơi béo. Ba tháng sau tôi được lên cấp C. Lớp này trình độ cao, có thày Sawyer đã già, nói không mở miệng mà chỉ nhắp nhắp môi. Tôi sợ nhất khi thày gọi tên mình, kèm theo từ vựng: “Mr. Bui. Universal” là lúc phải vận dụng khiến thức để sáng tạo một câu, sử dụng từ đó và nói lớn cho cả lớp nghe.

Ở trường tôi gặp một vài người Việt nữa như gia đình ông bà Đỗ Điện Thoại, chủ Kim Sơn ấn quán in sổ xố kiến thiết ở Sài Gòn ngày trước. Hai ông bà di tản, còn người con trai từ châu Âu qua. Có bà Sáng là người ở cùng ấp Lộc Hoà, xã Tân Sơn Hoà, tỉnh Gia Định nơi tôi sinh ra và lớn lên, cùng anh con trai là Chương từ Đức qua. Chỉ chừng dăm bảy người Việt.

Hình tác giả bên cầu Golden Gate gửi về cho gia đình

Tôi quen với bạn mới là sinh viên nước ngoài, những người đã giúp làm nhịp cầu liên lạc với gia đình còn ở Việt Nam. Những cánh thư đầu tiên gửi về nhà từ Hồng Kông với Dominic, Nhật Bản với Kimiyo hay từ Thụy Sĩ với Ursula chuyển dùm.

Thư viết ít hàng báo cho gia đình biết mình và các anh chị đến được bến bờ bình an và “đang sống ở một nơi gần cầu Golden Gate” với hy vọng các em tôi sẽ hiểu ra, vì nếu nói rõ đang ở Mỹ thì sợ gia đình bi liên lụy, bị nhà nước làm khó dễ. Cầu Golden Gate là một thắng cảnh nổi tiếng của thành phố San Francisco, được nhắc đến trong một bài đọc trong sách Anh văn “English for Today” là sách giáo khoa ở bậc trung học mà tôi cũng như cô em gái đã học qua. Một người trong giáo xứ Mỹ đã bảo trợ chúng tôi cũng giúp chuyển thư qua Pháp để gửi về Việt Nam. Như thế tôi đã gửi về nhà bốn lá thư qua bốn quốc gia khác nhau.

Đến tháng 12 tôi nhận được tin tức từ gia đình. Nhưng các em tôi không chắc lắm về nơi tôi đã đến vì những phong thư ghi địa chỉ, dán tem và mang dấu bưu điện từ nhiều quốc gia khác nhau nên gia đình cũng không chắc tôi đang ở đâu. Sau này đứa em gái đã viết thư hỏi thẳng là có phải tôi đang sống ở Mỹ hay không.

Bạn bè quen, tôi liên lạc được với Nguyễn Công Bình trong nhóm bạn thời trung học. Bình sang Mỹ du học ở Đại học Texas A&M từ 1973. Tôi cũng liên lạc với Phan Mộng Trang, bạn của Thu Hương, là con của Chuẩn tướng Không quân Phan Phụng Tiên. Trang đi du học năm 1974 và đang ở thành phố Montgomery, bang Alabama. Những tin tức vế Thu Hương tôi biết qua Trang lúc đầu mang hi vọng, nhưng sau khi tôi viết thư cho ba của Thu Hương theo địa chỉ ở Arkansas và được chuyển qua người cô ở Thụy Sĩ, tôi nhận được thư của ông từ Thụy Sĩ có một câu ông viết mà tôi không hiểu là Thu Hương còn sống hay đã chết: “Cậu cũng như chúng tôi giống như bao bông sẽ không còn khi nào gặp lại”. Dù thế nào điều đó cũng làm tôi thất vọng và buồn hơn.

Thư bạn là niềm vui và an ủi cho nhau trong những ngày đầu ở Mỹ

Những người thân quen gặp nhau trên đường di tản thì có gia đình anh Nguyễn Quốc Tuấn là lính hải quân, gặp ở Guam, được định cư ở New Britain bang Connecticut. Ở bang này còn vài người hàng xóm cũng là lính hải quân đang định cư. Hai sinh viên đàn anh từ xứ Nghĩa Hoà là Trần Năm Châu định cư ở Seattle, Washington, Trần Đức Long ở Napa, California. Những người cùng trại, cùng lều là các anh Đoàn Văn Lưu, Nguyễn Văn Bút và Nguyễn Văn Chinh đi định cư ở Kailua, bang Hawaii. Nguyễn Thị Thuỷ rời trại ra sống ngay ở miền nam California, thành phố Downey. Qua mục nhắn tin trên báo Đời Sống Mới dành cho người tị nạn và các báo tiếng Việt đầu tiên ở Mỹ là Hồn Việt và Trắng Đen tôi liên lạc được với Nguyễn Thị Ngọc Di ở Pensacola, Florida là bạn học cũ ở trường Nguyễn Bá Tòng, với gia đình chị Trần Thị Hồng từ West Virginia là chị chồng mới cưới của đứa em gái kế tôi. Sau ngày 30.4 chừng hơn một tháng, gia đình vội vàng lo cho cô em gái, đang học lớp 12, lấy chồng vì sợ phải lấy bộ đội.

Trong năm 1976 tôi được tin gia đình thường xuyên. Đời sống bên nhà khó khăn. Ba cô em gái kế đứa thì bỏ học lấy chồng ngay sau ngày 30.4, đứa ra chợ giúp mẹ buôn bán. Đồ đạc trong nhà bán dần đi để lo cơm gạo. Bố tôi là hạ sĩ quan, chỉ bị học tập tại chỗ vài tuần. Còn nhiều chú bác, xóm giềng là cảnh sát và sĩ quan thì đã đi học tập cải tạo hơn một năm mà chưa được về. Qua thư nhà tôi cũng biết các bạn thân đều ở lại và không còn thực sự học hành nơi giảng đường mà phải cực nhọc công tác thuỷ lợi, phải lao động nông trường nhiều hơn.

Ngày ngày tôi đạp xe đi học buổi sáng. Chiều về đi sơn nhà chừng hai, ba tiếng đồng hồ với một người trong họ đạo, được trả lương 2.50 đô-la một giờ. Cộng với tiền trợ cấp tị nạn, tôi có 300 đô-la một tháng để bắt đầu cuộc đời ở Hoa Kỳ.

Năm đầu định cư, tiền thuê nhà được nhà thờ bảo trợ trả. Gia đình để dành mua được chiếc Wolkswagen đời 1967 giá 900 đô-la sau khi anh lớn có bằng lái của bang California. Rồi đến hai anh kế.

Ngày 5 tháng 12, 1975 tôi thi đậu bằng lái xe. Mấy tháng sau chúng tôi mua thêm chiếc Chevrolet mui gấp đời 1962 từ một giáo sư thỉnh giảng người Đức qua dạy trường luật Đại học Berkeley. Ông bán lại với giá giúp đỡ, chỉ 100 đô-la.

[ảnh trong bài của tác giả]

© Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in đời sống and tagged , , . Bookmark the permalink.

One Response to 10 năm tôi đi một vòng trái đất. Bài 4: Bước vào đời sống Mỹ

  1. Mi says:

    Cám ơn tác giả về những tự truyện rất hay.

    Đọc những dòng này như thể xem lại cuốn phim quay ngược về quá khứ, với những trải nghiệm đau buồn…

    Kính chúc sức khỏe.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s