Bác Phương

Bùi Văn Phú

Trần Ruy Dương (1916-2013)

Trần Ruy Dương (1916-2013)

Trưởng tộc họ ngoại của gia đình tôi là bác Trần Ruy Dương. Họ hàng thân thuộc thường gọi là bác Phương.

Bảy anh em tôi cũng như bảy người con của bác, có lẽ chỉ mình con cả của bác là Tiến sĩ Trần An Bài còn biết đến ông nội, ông ngoại và làng Chiền ở xã Hiệp Luật, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Còn các em chẳng ai được biết các cụ vì ngày đó còn bé hay chưa được sinh ra thì ông đã mất, sau khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết.

Quê hương tổ tiên nơi đất Bắc là ao vườn, là lối xóm như bác tả qua mấy câu thơ:

Làng Chiền có chín cái ao
Một khu miễu rậm, cùng nhiều lũy tre
Đường đi lối xóm Tây, Đông
Dân cư chín xóm, thẳng trong đường làng
Xóm Đình, xóm Trại, xóm Đông
Xóm Trên, xóm Dưới, xóm Trong. Họ Chiền
Đường Quàn, cổng mới xây lên
Lối vào cổng Cũ, cạnh bên nhà Thờ…

Bên mẹ tôi chỉ có mình bác là anh. Cả hai đều di cư vào Nam sinh sống sau ngày đất nước chia đôi.

Mẹ kể rằng ngày còn bé tôi hay được bố mẹ đưa ra Phước Tuy thăm bác, lúc bác làm trưởng ty Hiến Binh. Tôi còn nhỏ để có trí nhớ về những chuyến đi xa đó, nhưng trong nhà còn ảnh gia đình được bác đưa đi tắm biển ở Bà Rịa, ở Long Hải.

Kỷ niệm còn trong ký ức của tôi là một dịp Tết theo bố mẹ ra thăm gia đình bác ở Vũng Tàu. Lúc đó tôi mới biết bác giỏi tiếng Pháp và đã dạy cho một anh con của bác nói những câu tiếng Pháp để chúc tuổi khách đến nhà chúc Tết.

Bác và anh Trần Kim Bảng, bên trái, cùng bố và tôi ở bãi biển Long Hải dịp Tết năm 1959

Bác và anh Trần Kim Bảng, bên trái, cùng bố và tôi ở bãi biển Long Hải dịp Tết năm 1959

Bác giỏi Pháp ngữ vì những năm đầu thập niên 1940 bác là lính và được đưa qua Pháp phục vụ.

Trong tập thơ “Đời Là Thế” in năm 1996 để tặng thân hữu và lưu lại cho con cháu, có bài “Tết ở Pháp” bác viết năm 1942.

Ở Pháp năm nay biết Tết gì?
Tết tiền không có Tết bằng chi!
Pháo tranh muốn sắm song hiềm những…
Rượu bánh toan mua ngán nỗi vì…
Thôi cứ ngủ khì êm truyện cả
Mặc cho thời thế cái xuân đi
Một mai trở lại non sông cũ
Gặp buổi xuân sang Tết sẽ thì…

Trở về quê hương sau những năm bôn ba xứ Pháp, rồi lại phải rời bỏ quê hương vào Nam.

Cuộc đời có lúc làm quan, có lúc gian nan hoạn nạn, nhưng dù hoàn cảnh thế nào bác cũng chấp nhận với một đức tin mạnh mẽ vào ý Thiên Chúa.

Cuối tháng Tư 1975 chiến trận càng lúc càng về gần thành phố. Nhà bác có bà con bỏ vùng giao tranh đến tạm trú. Khi tình hình nguy ngập, anh lớn hỏi bác có muốn đi, bác không muốn. Anh đưa sáu em và tôi ra đi bằng tàu, đến được Mỹ định cư.

Ở quê nhà chỉ còn lại hai bác trong căn nhà rộng ở giáo xứ Chí Hoà, Ngã Ba Ông Tạ. Với cấp bậc sau cùng là Trung Úy Cảnh Sát, ít tuần sau ngày 30-4 bác bị đưa vào trại tập trung cải tạo, trải qua 7 năm trong những nhà tù ở Trảng Lớn, Gia Rai, Phú Quốc.

Nỗi buồn trong tù được bác ghi lại vào năm 1976, lúc ở Trảng Lớn:

Cửa nhà vắng vẻ lắm con ơi
Cha mẹ mỗi người sống một nơi
Tình cảnh thế này hiu quạnh lắm
Chỉ vì hồn trọng xác hèn thôi

Sau chuyển trại ra Phú Quốc:

Phú Quốc làm sao chỉ có mưa
Té ra Tết đến thật buồn chưa
Khách lo cẩu thả, về ăn mặc
Chủ sợ khoe khoang, chẳng đón đưa
Trách phận hẩm hiu, vì vận nước
Thương người xấu số, mệnh trời xưa
Cơm vôi nhà đá ai mà hiểu
Lấp loáng bên ngoài thấy bóng thưa

Bác gái vì sức khoẻ không thể lặn lội đường xa nên những lần đi thăm bác chỉ có mẹ tôi và các em. Mẹ thường kể cho chúng tôi nghe về những chuyến thăm nuôi, về tình thương của bác dành cho mẹ và gia đình, về giúp đỡ vật chất và tinh thần mà gia đình bác đã dành cho anh em chúng tôi. Nhất là qua những lời kinh cầu nguyện.

Ngày xưa tôi thường nghe bác đọc hai câu thơ:

Ăn mặn uống nước đỏ da
Nằm đất nằm cát Đức Bà lại thương

Những ngày trong trại học tập và sau này qua Mỹ, nhiều năm bác thường ăn cơm nắm với muối vừng trong ý nguyện ăn chay, hãm mình, cầu nguyện.

Rời Việt Nam vào tháng Tư 1975 cùng các anh chị nên nhiều năm tôi không thấy bác. Cho đến đầu năm 1983, khi bác đến Mỹ đoàn tụ. Lúc đó bác 67 tuổi nhưng trông già hom hem, râu dài bạc phơ, mắt trái bị hư. Một dáng hình rất khác với ký ức 1975 của tôi về bác.

Bác về San Jose sống với các anh chị. Mỗi dịp ghé thăm, nghe bác kể chuyện quê nhà, chuyện ngày xưa mà không khỏi xúc động vì những gian nan cuộc đời mà bác đã trải qua, về tình cảnh gia đình khốn khó ở quê nhà.

Mẹ tôi nhỏ hơn bác có đến 15 tuổi nên ngày còn bé được bác dạy đọc kinh sách. Bác có một kinh cầu cho những người lính mà mẹ học thuộc và đã dạy lại cho tôi và các em đọc mỗi tối để cầu nguyện cho bố, cho bác và những người đang ở trong quân đội: “Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp. Xin thương đến bố con. Đang đi việc quân vương. Xin Mẹ đoái thương. Cho được làm tròn bổn phận mình.”

Lúc còn sống, bác luôn nhắc con cháu việc kinh lễ. Ra thăm bác ở Vũng Tầu, mỗi chiều cả nhà đều đi lễ. Tôi vẫn còn nhớ mãi những buổi chiều hơi lạnh, từ nhà bác thả bộ trên con đường dọc theo biển với hàng cây xanh dẫn đến nhà thờ đá.

Khi lên xe, bác cũng bảo con cháu làm dấu Thánh Giá, đọc kinh và cầu xin cho được đi đến nơi, về đến chốn.

Bác, mẹ và ông ngoại

Bác, mẹ và ông ngoại

Nhà thờ Chiền và đài Thánh Tử Đạo

Nhà thờ Chiền và đài Thánh Tử Đạo

Tại sân bay San Francisco, bác đang viết những lời nhắn nhủ trước khi tôi đi nước ngoài làm việc năm 1983

Tại sân bay San Francisco, bác đang viết những lời nhắn nhủ trước khi tôi đi nước ngoài làm việc năm 1983

Thời gian tôi làm việc ở nước ngoài bác thường gửi báo cho tôi, để từ nơi xa xôi tôi có thông tin về những sinh hoạt của cộng đồng người Việt, về cuộc đấu tranh cho một giáo xứ thể nhân của người công giáo Việt ở San Jose.

Tôi không biết bác có tâm hồn thi phú cho đến khi bác đến Hoa Kỳ. Mỗi dịp ghé thăm, bác hay cho đọc những vần thơ mới sáng tác. Thơ của bác là cảm nhận về cuộc đời, về niềm tin vào Thiên Chúa và Đức Mẹ, về những dịp đặc biệt trong gia đình như đỗ đạt, cưới xin, sinh con, thôi nôi, đầy tháng của các con, các cháu.

Năm 1995 tôi về thăm quê hương tổ tiên lần đầu tiên. Tôi sinh trong Nam sau ngày bố mẹ di cư, nên khi ghé thăm những bậc trưởng lão phải nói là cháu của ông nội, ông ngoại thì họ hàng mới nhận ra. Ghé thăm mộ phần tổ tiên họ Bùi, họ Trần gần nhau trong nghĩa địa quê. Các cụ đều chôn chung trong một lỗ. Ghé thăm nhà thờ Long Cù họ nội và nhà thờ Chiền họ ngoại.

Về lại Hoa Kỳ, đem hình cho bác xem. Nhìn nhà thờ Chiền với tháp cao, có ghi năm 1937, bác kể lại chuyện tích cho nghe đó là năm tu bổ nhà thờ mà bác cùng thanh niên trong họ là những người đã đặt con số ghi niên kỷ lên trên đó. Bác và mẹ cũng thường nhắc đến các vị trong làng đã hy sinh vì đạo, nên giáo dân đã xây một đài ở cuối nhà thờ Chiền và đặt xương các thánh trong đó để kính thờ.

Năm 1937 bác là một thanh niên 21 tuổi, tích cực tham gia sinh hoạt họ đạo. Đến năm 1938 bác lập gia đình. Hai bác đã sống bên nhau cho đến ngày bác được Chúa gọi về.

Và như bác kể qua một bài thơ, bác gái đã có 13 lần sinh nở, nhưng chỉ có bảy người con sống được là các anh chị Trần An Bài, Trần Kim Bảng, Trần Đức Ban, Trần Thị Thanh Diệp, Trần Thị Bích Du, Trần Đình Bá và Trần Thái Bạch.

Gia đình của bác, từ trái: Bác Phương, Trần Đình Bá, Trần Đức Ban, Trần Thị Bích Du, Trần Kim Bảng, Trần Thị Thanh Diệp, Trần An Bài, Trần Thái Bạch, Bác gái

Gia đình của bác, từ trái: Bác Phương, Trần Đình Bá, Trần Đức Ban, Trần Thị Bích Du, Trần Kim Bảng, Trần Thị Thanh Diệp, Trần An Bài, Trần Thái Bạch, Bác gái

Theo tín lý công giáo, sự sống là cao cả. Một người được sinh ra hay chết đi, tất cả đều do Thánh ý Chúa.

Trong niềm tin đó, sau 97 năm luôn sống phần hồn và tuy xác phàm những năm cuối đời chỉ còn là nhịp thở, bác tôi, cụ Giuse Trần Ruy Dương đã được Chúa gọi về lúc 4 giờ chiều ngày thứ Hai 8-7-2013.

Chúng con luôn nhớ và cầu nguyện cho bác.

© 2013 Buivanphu

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, đời sống and tagged , , , , . Bookmark the permalink.

5 Responses to Bác Phương

  1. Pingback: Tin thứ Hai, 22-07-2013 | Dahanhkhach's Blog

  2. Pingback: Anhbasam Điểm Tin thứ Hai, 22-07-2013 | doithoaionline

  3. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ HAI 22-7-2013 | ngoclinhvugia2

  4. D.Nhật Lệ says:

    Tình cờ vào trang mạng này của bác và đọc được bài trên, nên tôi xin lỗi có chút tò mò muốn hỏi bác… Nhưng không có đ/c e-mail của bác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s