Tướng Giáp không đi Mỹ, vì sao?

Bùi Văn Phú

Trong bài viết “Món nợ khó trả của một Tổng tư lệnh” [VOA Tiếng Việt 16-10-2013] ông Bùi Tín có nhận định rằng sự việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc còn sống đã không thăm viếng Mỹ hay Pháp vì lo sợ phải đối mặt với những thân nhân của chiến binh còn mất tích trong chiến tranh.

Tại Mỹ, vấn đề tù binh và người mất tích trong cuộc chiến Việt Nam (POW-MIA) là nỗi day dứt đối với thân nhân họ và cũng là ưu tiên của chính phủ Hoa Kỳ trong chính sách đối với Việt Nam trong hơn hai thập niên.

Với Hiệp định Ba Lê ký kết năm 1973, binh lính Mỹ rút khỏi Việt Nam và tù binh chiến tranh được trao trả.

Ông Bùi Tín viết: “Mỹ đã nhận về 591 tù binh, nhưng theo danh sách số người mất tích còn lại lên đến 1.350 hoặc 1.469 người, theo tài liệu của phía Mỹ. Phía Mỹ đặt ra nhiều giả thuyết: Phải chăng phía Việt Nam đã che dấu một số tù binh còn sống, đưa đi đâu để dùng làm thí nghiệm vũ khí mới? Đã tra tấn đến chết rồi phi tang? Đưa sang nước khác, như Liên Xô, Cuba? Giữ lại để đào tạo làm gián điệp?”

Những giả thuyết trên về số phận những tù binh chưa được trao trả đều là những sự việc có thể đã xảy ra.

Hà Nội không trao trả hết số tù binh vì họ không còn giữ mà đã được chuyển qua Liên Xô hay Trung Quốc khi còn chiến tranh.

Những tù binh khi bị bắt còn sống, sau đó chết nên Hà Nội không thể trao trả cho Mỹ.

Hà Nội có thể đã giữ lại tù binh hay hài cốt để thương lượng với Mỹ sau này.

Vấn đề POW-MIA luôn được Hoa Kỳ và dư luận Mỹ quan tâm ngay từ những ngày còn chiến tranh. Năm 1971 ở Mỹ đã có hội thân nhân của tù binh.

Ngay sau chiến thắng của Hà Nội vào tháng 4-1975, Dân biểu Gillespie V. “Sonny” Montgomery thuộc Ủy ban POW-MIA Hạ viện là vị dân cử Mỹ đầu tiên đến Việt Nam để tìm hiểu vấn đề và ông được Hà Nội trao cho ít hài cốt lính Mỹ đem về.

Sau đó Tổng thống Jimmy Carter cử Đặc sứ Leonard Woodcock đi Việt Nam bàn về tương lai bang giao hai nước. Trong tiến trình thảo luận, Hà Nội muốn gắn liền điều kiện cung cấp tin tức về người Mỹ mất tích với số tiền viện trợ tái thiết 3 tỉ 250 triệu đôla mà Tổng thống Richard Nixon đã hứa với Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau khi ký Hiệp định Ba Lê.

Hành pháp Hoa Kỳ từ chối viện trợ vì ngân sách do quốc hội quyết định và trên nguyên tắc hiệp định đã bị xoá bỏ sau khi miền Bắc chiếm miền Nam bằng quân sự. Hơn nữa, Tổng thống Gerald Ford cũng đã ký sắc lệnh cấm viện trợ cho đến khi Hà Nội cung cấp tin tức về POW-MIA.

Từ đó vấn đề POW-MIA là một trong những điều kiện ưu tiên, cùng với giải pháp chính trị cho Campuchia, trong thương thảo giữa Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tương lai quan hệ hai nước.

Quốc hội Mỹ trong các thập niên 1980 và 90 đã có nhiều buổi điều trần liên quan đến vấn đề này.

Ông Bùi Tín viết rằng vì Tướng Giáp là Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân nên có trách nhiệm về tù binh chiến tranh, trong khi cách lưu giữ hồ sơ không có tổ chức rõ ràng nên Tướng Giáp, và cả Bộ chính trị, cũng không nắm vững con số về tù binh Mỹ đã bị bắt giữ.

Tù binh Mỹ bị bắt trong chiến trường miền Nam, khi được chuyển ra Hà Nội với điều kiện giao thông trắc trở và vì an ninh thì hồ sơ có thể thất lạc. Nhưng những phi công bị bắn rơi tại miền Bắc, việc quản lý chắc chắn phải đầy đủ.

Tôi tin Hà Nội có đủ hồ sơ. Cũng như vụ 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa được Hà Nội giữ lại, chứ không phải ông Nguyễn Văn Thiệu đã mang đi theo như tin đồn trong nhiều năm sau 1975. Sau đó nhà nước dùng số vàng này cho việc gì thì không ai muốn nói ra. Ông Bùi Tín có tiết lộ là đã dùng đề trả nợ, để mua gạo trong những năm đói kém. Sự thực lãnh đạo đã dùng số vàng này như thế nào đến nay cũng chưa rõ.

Trong chiến tranh, tù binh Mỹ đối với Hà Nội còn quý hơn vàng vì thế không thể có những xử lí cẩu thả, thiếu sót.

Cuối thập niên 1980 tôi làm việc tại các trại tị nạn ở Đông nam Á, có dịp nghe giới chức Trung tâm Giảo nghiệm Hài cốt ở Hawaii kể là phần lớn những trường hợp lính Mỹ mất tích chưa được giải quyết là những kỹ sư phi hành bị bắn rớt trong những phi vụ không kích miền Bắc Việt Nam. Có giả thuyết là những tù binh này đã được đem qua Liên Xô để khai thác về kỹ thuật.

Năm 1992, Tổng thống Boris Yeltsin nói với đài NBC của Hoa Kỳ rằng có khả năng một số tù binh Mỹ đã được Hà Nội giao cho Liên Xô thời chiến tranh.

Ngày nay dù bang giao Mỹ-Việt đã phát triển trên nhiều lãnh vực, nhưng vấn đề POW-MIA vẫn được giới chức Hoa Kỳ nhắc đến trong các chuyến đi Việt Nam vì họ tin rằng Hà Nội có thể làm nhiều hơn nữa để làm sáng tỏ số phận của lính Mỹ còn mất tích.

Trong hơn ba mươi năm qua, khoảng 700 hài cốt lính Mỹ do Hà Nội trao trả đã được xác minh thân thế. Hiện vẫn còn hơn 200 trường hợp tù binh mà khi bị bắt được biết là còn sống nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì về họ.

Cuối năm 1991, vì là người đầu tiên mang quân hàm Quân đội Nhân dân cao nhất đến Mỹ nên Đại tá Bùi Tín đã bị chất vấn về vấn đề POW-MIA ngay tại sân bay, cũng như tại những buổi hội thảo. Ông Tín nói không còn một người tù binh Mỹ nào tại Việt Nam.

Qua trải nghiệm đó, ông cho rằng nếu Tướng Võ Nguyên Giáp đến Mỹ chắc chắn cũng sẽ bị chất vấn về POW-MIA vì đó là “món nợ cồng kềnh” của cựu Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thực ra, sau khi mở ra quan hệ hai nước nhiều tướng đã đến Mỹ mà không gặp phản ứng vì chuyện tù binh chiến tranh. Các tướng Trần Văn Quang, Nguyễn Đình Ước, Đặng Vũ Hiệp, có người từng là Thứ trưởng Quốc phòng, là Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân đã sang Mỹ hội họp và không phải đối mặt với những chất vấn gay gắt.

Lý do Tướng Giáp không đi Mỹ, hay Pháp, không vì lo sợ liên quan đến tù binh như dự đoán của ông Bùi Tín.

Sau khi dần bị loại ra khỏi những chức vụ quân đội và quốc phòng (1980), rồi ra khỏi Bộ Chính trị (1982) và sau cùng là bị loại khỏi chính trường tại Đại hội VII (1991), Tướng Giáp như bị giam lỏng trong nhà ở số 30 Hoàng Diệu. Muốn đi đâu, muốn gặp khách hay báo chí nước ngoài đều phải có sự chấp thuận của Bộ Chính trị. Sự kiện năm 2002 khi Tướng Giáp gửi vòng hoa phân ưu đến cùng gia đình Tướng Trần Độ cũng đã bị làm khó dễ, phải có ý kiến của bên trên cho thấy những hoạt động của ông bị kiểm soát chặt chẽ như thế nào.

Trước Đại hội VII đã có nhiều biến động chính trị tại Việt Nam do ảnh hưởng của sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên bang Xô Viết, cũng như ảnh hưởng của phong trào sinh viên tranh đấu đòi dân chủ năm 1989 ở Trung Quốc đưa tới vụ thảm sát Thiên An Môn.

Ông Bùi Tín lúc đó ra nước ngoài, sau khi tham dự hội nghị do báo L’Humanité tổ chức cuối năm 1990 tại Pháp và quyết định không trở về.

Từ nước ngoài, ông công bố kiến nghị của một công dân kêu gọi cải tổ chính trị, dân chủ hóa đất nước. Bản kiến nghị được phổ biến rộng rãi, được đài BBC Việt ngữ truyền về trong nước và được nhiều người đón nghe. Dư luận cho rằng ông lên tiếng thay cho Tướng Giáp, cho những “người cộng sản lương thiện” đang chuẩn bị họp Đại hội VII để đưa Tướng Giáp lên nắm quyền, hy vọng Tướng Giáp trở thành một Gorbachev của Việt Nam.

Ông Bùi Tín, bên trái, trong lần gặp gỡ người Việt ở San Francisco cuối năm 1991. Bên cạnh ông là cựu Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa, Đại tướng Nguyễn Khánh (ảnh Bùi Văn Phú)

Ông Bùi Tín, bên trái, trong lần gặp gỡ người Việt ở San Francisco cuối năm 1991. Bên cạnh ông là cựu Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa, Đại tướng Nguyễn Khánh (ảnh Bùi Văn Phú)

Rồi không hiểu sao lại có âm mưu đảo chánh trước Đại hội, có qui chụp cho rằng Tướng Giáp làm gián điệp cho ngoại bang qua vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ”. Vụ án không biết có phần nào liên quan đến những lá thư mời ông qua Hoa Kỳ của một số cá nhân, những tổ chức nghiên cứu và công ty thương mại Mỹ. Có thư do chính tay con gái ông mang về.

Lúc đó Trung Quốc cũng ảnh hưởng mạnh đối với lãnh đạo Việt Nam. Tướng Giáp bị loại khỏi chính trường, ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch được cho là thân Mỹ mất chức. Những ai lên tiếng đòi cải cách chính trị như Trần Xuân Bách, ủy viên Bộ Chính trị; Phan Đình Diệu, đại biểu quốc hội, cũng dần bị loại ra khỏi cơ cấu lãnh đạo.

Trong Nam nhóm truyền thống kháng chiến của Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng bị dẹp, nhiều người liên hệ bị giam tù. Ngoài Bắc, nhà văn Dương Thu Hương bị bắt vì liên quan đến một Việt kiều Mỹ và Tổng cục 2 cũng làm xôn xao dư luận lúc bấy giờ.

Tướng Giáp không có dịp qua Mỹ không phải vì ngại chuyện tù binh, lính Mỹ mất tích. Bộ Chính trị đã giam lỏng ông cho đến ngày ông qua đời, hôm 4.10.2013 ở Hà Nội.

© 2013 Buivanphu

[Bài đã đăng trên VOA Tiếng Việt, 22.10.2013]

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, chính trị Việt and tagged , , , . Bookmark the permalink.

5 Responses to Tướng Giáp không đi Mỹ, vì sao?

  1. Pingback: Anhbasam Điểm Tin thứ Năm, 24-10-2013 | doithoaionline

  2. Chinh Pham says:

    Đọc bài viết của anh, thấy anh có vẻ thiên kiến, phản kháng tới bất cứ ai nói không hay về ông Võ Nguyên Giáp.

    Theo như ông Bùi Tín, một người đã từng tiếp xúc với VNG, ông đã yêu cầu VNG thăm ông Hoàng Minh Chính hoặc tướng Trần Độ. VNG đã không dám thăm họ. Loại người như vậy không thể nào làm người khác kính phục.

    VNG không muốn qua Pháp và Mỹ là có cơ sở. Bởi VNG là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng cho đến khi chiến tranh Nam – Bắc chấm dứt.

    Thật sự, nếu VNG qua Pháp và Mỹ, người Pháp và Mỹ có hỏi về POW-MIA, VNG không thể nào không mở miệng, không thể nào ấp úng, không thể nào chối từ vì chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng của ông ta. Vì vậy, chuyện anh so sánh với các tướng lãnh khác của CSVN không bị đối chất POW-MIA là không có cơ sở.

    Anh có vẻ cho rằng VNG là con người thương giống, yêu nòi. Chuyện VNG nướng quân (không phải con cháu), ra tay tàn bạo với những người theo Quốc Dân Đảng, nhìn và thấy cuộc giết người đẫm máu thời Cải Cách Ruộng Đất, chuyện những người đi lính Pháp bị tù tội tại miền Bắc.

    Anh lại có vẻ căm thù những lãnh tụ Việt Nam Cộng Hòa. Những người đã xây dựng một chế độ Tự Do mà anh được hưởng trước khi cộng sản chiếm được hoàn toàn miền Nam.

  3. Nguyen Viet says:

    Chinh Pham có vẻ căm thù (chữ của Chinh Pham) tác giả bài viết.

    Đọc bài tôi không thấy ông Phú căm thù những lãnh tụ Việt Nam Cộng Hòa.

  4. BK54 says:

    “Thằng khỏe sợ thằng gan, thằng gan sợ thằng lì, thằng lì sợ thằng thí mạng cùi”.

    Đại tướng “Võ Nướng Quận” tuyên bố không hối hận khi đem quân ra nướng trong trận đánh ĐBP.

    Hồ Chí Minh: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, tớ cũng phải đánh cho đến thằng cuối cùng.” (trừ tớ và bộ chính trị lưu manh).

    Lê Duẩn: “Ta đánh đây là đánh cho Nga, cho Tàu”.

    Với một cuộc chiến mà một bên quyết chết đến người cuối cùng, bất chấp số lượng, bất chấp cơ đồ, bất chấp tất cả để giành thắng lợi… thì bên kia chỉ còn một cách hoặc giết tất cả, hoặc bỏ chạy tụt quần… xách dép… không kịp”.

    Bộ đội miền bắc (dân đen) bị lùa vào một cối xay thịt vĩ đại. Việt Cộng càng thua càng cay cú nên ngày 30-4-1975 chi cần thắng một trận thôi là chúng trả thù cho đến 3 đời VNCH.

    Việt Cộng luôn “tịt ngòi” không phản biện được nên hay lập lại 2 câu thuộc lòng:

    1. Đánh cho chạy sút quần.
    2. Không có chính nghĩa thì sao thắng được?

    Tàu đô hộ Việt Nam 1000 năm, Pháp đô hộ 100 năm, hai nước này có chính nghĩa không?

  5. vivi099 says:

    Võ Nguyên Giáp là Võ tướng nướng quân để chiến thắng … Nếu là một vị tướng của Mỹ sẽ bị mất chức .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s