Từ ‘Việt Nam Cộng hòa’ đến hòa giải dân tộc

Bùi Văn Phú

Hiệp định Paris được ký ngày 27/1/1973 giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Những ngày qua có thông tin Viện Sử học Việt Nam vừa cho phát hành bộ sử Việt gồm 15 tập, do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ biên, trong đó khi nói đến miền Nam từ năm 1956 đến 1975, những nhà viết sử đã dùng danh xưng đúng của mảnh đất này là “Việt Nam Cộng Hòa” chứ không còn gọi là “ngụy quyền Sài-Gòn”.

Nhiều thảo luận đã đưa ra lí giải vì sao có thay đổi cách gọi tên như thế.

Có ý kiến cho đây là vì Hà Nội muốn đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng – những vùng quần đảo này trước đây thuộc về Việt Nam Cộng hòa (miền Nam), còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) qua Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại thừa nhận Hoàng Sa nằm trong lãnh hải Trung Quốc.

Theo công pháp quốc tế thì chỉ khi thừa nhận có quốc gia Việt Nam Cộng hòa thì Hoàng Sa mới thuộc chủ quyền của nước Việt Nam.

Cũng có người nói thay đổi cách gọi tên của miền Nam là tạo không khí cho chính sách hòa giải dân tộc để chung sức chống lại Trung Quốc đang bành trướng.

Những nhà sử học cho đó là cách viết sử nghiêm minh và chuẩn mực, điều mà trước nay bởi nguyên do chính trị và tuyên truyền nên sách sử xuất bản tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã dùng những từ miệt thị khi nói về Việt Nam Cộng hòa, như khi nói về chính quyền thì gọi là “ngụy quyền” và những người phục vụ chính quyền đó là “ngụy quân”.

Tuy nhiên, một tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lên tiếng phản đối cách gọi tên đó và cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng hòa là “một thây ma” đã chết từ lâu không việc gì phải dựng nó sống lại.

Trên Facebook của tôi, có bạn tỏ ra rất lạc quan với những biến chuyển chính trị trong vòng một năm qua, với việc Việt Nam đang xích gần lại với Hoa Kỳ hơn bao giờ hết trong quan hệ mang tính chiến lược, trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, và đang tạo ảnh hưởng đến lãnh đạo Hà Nội cũng như tác động đến nền kinh tế đang có nhiều khó khăn ở Việt Nam.

Cũng có nhận định cho rằng sắp đến thời điểm đem Hiệp định Paris 1973 ra để thi hành.

Sự kiện này không phải là điều mới. Từ thập niên 1990, giáo sư Vũ Quốc Thúc, một nhà kinh tế và giáo sư đại học thời Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra chủ trương khôi phục và thi hành Hiệp định Paris, tức là đòi cho người dân miền Nam được quyền tự quyết về tương lai chính trị và những quyền tự do căn bản.

Căn bản của Hiệp định Paris là để quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam trong danh dự và hai miền chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình trên đất nước Việt Nam.

Sau đó giải quyết khác biệt chính trị bằng việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiến đến bầu cử để chọn lựa thể chế chính trị.

Hai chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam thực thi chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc, người dân miền Nam có các quyền căn bản, theo điều 11 của hiệp định:

  • Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;
  • Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Về việc thống nhất hai miền Nam và Bắc, quyết định đó tùy thuộc vào chính phủ hai bên.

Hoa Kỳ cũng đồng ý viện trợ hơn ba tỉ đôla để tái thiết miền Bắc Việt Nam.

Hiệp định đã được ngoại trưởng của bốn bên ký tại Paris ngày 27/1/1973, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/4/1975 xe tăng và bộ đội cộng sản miền Bắc vào chiếm miền Nam, chính quyền Sài Gòn đầu hàng.

Một năm sau hai miền chính thức được thống nhất, đưa đến một thực tế là chỉ còn một nước Việt Nam từ đó đến nay.

Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng người thì chưa. Đó là nhận xét của nhạc sĩ Phạm Duy khi ông trở về Việt Nam năm 2005 để sống những ngày cuối đời và chết ở đó.

Từ nhiều năm qua, lãnh đạo Hà Nội đã ban hành những nghị quyết, chính sách với mục đích hòa giải dân tộc, như Nghị quyết 36 cách đây hơn một thập niên; những chính sách mời gọi người Việt ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ, về đầu tư, tham gia vào việc xây dựng đất nước. Hay chính sách cấp thị thực 5 năm cho người Việt có hộ chiếu nước ngoài.

Những chủ trương hòa giải dân tộc đó đã nhắm sai đối tượng, vì chỉ quan tâm tới người Việt sinh sống ở nước ngoài, trong khi đối tượng chính mà nhà nước cần có tinh thần hoà giải là với những công dân Việt đang sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Ngày nay ở Việt Nam chưa có hòa giải vì những người bất đồng quan điểm với nhà nước vẫn còn bị sách nhiễu, giam tù hay quản chế.

Những tù nhân lương tâm đã được thế giới nhắc đến như Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Trần Huỳnh Duy Thức là ví dụ.

Gọi tên “Việt Nam Cộng hòa” lúc này có liên quan gì đến việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa là điều tôi cho là xa vời, vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay quá lớn trong chính trường Việt Nam khiến lãnh đạo Hà Nội, dù có xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, cũng sẽ không làm gì mạnh về chủ quyền trên Biển Đông.

Sự kiện Việt Nam, do áp lực từ Trung Quốc, tháng trước đã phải yêu cầu công ty Repso của Tây Ban Nha ngưng khoan dầu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy điều đó.

Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là “Việt Nam Cộng hòa”, tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại nước ngoài.

Hãy để cho nền văn hoá đó được sống. Đừng cấm đọc, cấm in lại hay ngăn cản không cho phổ biến những ca khúc đã đi vào lòng hàng triệu người dân Việt. Điều đó sẽ thể hiện tinh thần hòa giải của chính quyền.

Còn nếu thực sự đem Hiệp định Paris ra làm căn bản hòa hợp hòa giải cho cả nước, đó sẽ là điều mừng cho đất nước và dân tộc, sau hơn 40 năm chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất.

© 2015 Buivanphu

[Bài đã đăng trên bbctiengviet.com 25.08.2017]

Từ ‘Việt Nam Cộng hòa’ đến hòa giải dân tộc * Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là “Việt Nam Cộng hòa”, tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại nước ngoài. Hãy để cho nền văn hoá đó được sống. Đừng cấm đọc, cấm in lại hay ngăn cản không cho phổ biến những ca khúc đã đi vào lòng hàng triệu người dân Việt. Điều đó sẽ thể hiện tinh thần hòa giải của chính quyền.

Advertisements

About Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú is a community college teacher and a freelance writer from San Francisco Bay Area. He worked with Peace Corps in Togo, Africa and United Nations High Commissioner for Refugees in Southeast Asia. Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco, California. Trong thập niên 1980, ông làm tình nguyện viên của Peace Corps tại Togo, Phi Châu và làm tham vấn giáo dục cho Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Đông nam Á.
This entry was posted in ở quê xưa, chính trị Việt and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s